Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm

pdf 35 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm

Sáng kiến kinh nghiệm Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm
 Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lý do chọn sáng kiến
 Năm học 2019 - 2020 là năm học “Giữ vững kỉ cương, nề nếp trường lớp
học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kĩ năng sống, văn hóa ứng xử cho đội
ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt các điều kiện cho đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông” và là năm học có nhiều ảnh hưởng lớn do dịch
covid-19 gây ra. Khiến học sinh phải nghỉ học kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến
việc rèn kiến thức, kĩ năng cũng như hình thành năng lực, phẩm chất cho học
sinh. Đặc biệt là đối với học sinh Tiểu học khi các năng lực của các em mới ở
những bước đầu hình thành. Và có lẽ đây cũng là một năm học có nhiều sự biến
đổi với bản thân tôi. Khi chuyển đến ngôi trường mới Tiểu học Thị trấn Tân Dân
nay là Tiểu học Thị trấn Tân An. Thay đổi môi trường nên ban đầu với tôi tất cả
đều lạ lẫm và khó khăn vì phải làm lại từ đầu để tìm hiểu môi trường, con người
nơi làm việc mới... Khi được ban giám hiệu phân công chủ nhiệm và giảng dạy
lớp 3C có 31 em học sinh là 31 tính cách và năng lực khác nhau đặc biệt các em
rất hiếu động. Mới từ lớp 2 lên lớp 3 nên các kĩ năng cũng như năng lực của các
em còn hạn chế rất nhiều. Vậy tôi nghĩ việc rèn kĩ năng và hình thành cho các
em những năng lực đó là thật sự cần thiết. Và để rèn kĩ năng và hình thành được
cho học sinh các năng lực trong mỗi hoạt động giáo dục thì phải làm thế nào?
Đó chính điều khiến tôi rất băn khoăn và có nhiều trăn trở. Từ đó mà trong quá
trình dạy học tôi luôn xác định ngoài việc hình thành kiến thức mới ra thì việc
hình thành và phát triển năng lực của học sinh là một nhiệm vụ cần thiết. Trong
bản thân mỗi học sinh thị trấn các em có môi trường sống được va chạm, được
giao tiếp nhiều nên các em luôn có những thế mạnh tiềm năng trong mỗi một cá
nhân. Phát huy được những thế mạnh đó thì việc hình thành năng lực cho các em
sẽ dễ dàng hơn. Xuất phát từ đó, tôi thấy việc mình phải làm là phải đổi mới
“phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh”. Từ đó tôi tìm
ra các biện pháp để việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đạt hiệu quả hơn.
Tôi sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực - lấy học sinh làm trung
tâm để phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo, khả năng tự học của học sinh;
tăng cường tính tương tác chia sẻ trong dạy và học giữa giáo viên với học sinh;
học sinh với học sinh, học sinh với bài học... Khi các mối quan hệ đó được hình
thành tốt trong một tiết học thì năng lực của các em sẽ tự được hình thành và
phát tiển sự mạnh dạn tự tin cũng như sự thông minh, tìm tòi sáng tạo của các
em học sinh. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ then chốt
bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Đó cũng là tiền đề để thực
hiện nhiệm vụ năm học và “Chuẩn bị mọi điều kiện để đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông”. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là: “Đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, 2
 toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ,
dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về
truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và
năng lực, hài hòa đức, trí, thể mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
sinh.” Đó chính là chuyển từ hướng tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận
năng lực học sinh. Xuất phát từ tình hình thực tế như vậy nên tôi đã chọn sáng
kiến “Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt
hiệu quả ở lớp chủ nhiệm” để chia sẻ những biện pháp mình đã làm, giúp việc
dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả, thiết thực hơn để
theo kịp trong thời đại mới.
 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến
 Tôi nghiên cứu sáng kiến này, nhằm đưa ra các biện pháp rèn học sinh để
thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy theo hướng tiếp cận năng lực đạt hiệu
quả, thiết thực trong dạy học. Giúp học sinh trường Tiểu học Thị trấnTân An nói
chung và học sinh lớp chủ nhiệm nói riêng hình thành và phát triển được những
năng lực qua các tiết học khi giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực học sinh.
 3. Đối tượng nghiên cứu.
 Để làm rõ được nhiệm vụ của sáng kiến tôi đã chọn học sinh lớp 3C và học
sinh khối 3 trường Tiểu học Thị trấn Tân An làm đối tượng nghiên cứu.
 Trong quá trình tìm ra biện pháp để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả
tôi đã quan sát việc học của học sinh thông qua các tiết dạy ở lớp chủ nhiệm cũng
như học sinh trong khối 3 ở những buổi dạy kê lớp và việc học của học sinh trong
toàn trường qua việc dự giờ đồng nghiệp và qua những buổi sinh hoạt chuyên
môn theo hướng nghiên cứu bài học.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 - Tìm hiểu thực trạng về sự phát triển năng lực của học sinh trong trường Tiểu
học Thị trấn Tân An.
 - Nghiên cứu và nắm rõ 3 nhóm năng lực của Thông tư số 22/2016/TT-
BGDĐT (gọi tắt là thông tư 22) và những năng lực cốt lõi của chương trình giáo
dục phổ thông mới.
 - Tiến hành phân tích, đánh giá đưa ra những giải pháp nhằm phát triển năng
lực cho học sinh để đổi mới phương pháp, tác phong trong dạy học theo hướng tiếp
cận năng lực học sinh đạt hiệu quả thiết thực.
 5. Phương pháp nghiên cứu. 3
 Để thực hiện sáng kiến này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
 - Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để phát huy
những tiềm năng của học sinh.
 - Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
 - Phương pháp quan sát.
 - Phương pháp vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực để kiểm nghiệm như: kĩ
thuật đối thoại giao tiếp, kĩ thuật cộng tác nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi...
 - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp học tập cộng tác
theo tiến trình giải quyết vấn đề; phương pháp bàn tay nặn bột,...
 Phần II. PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan
 Muốn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh
thì mỗi chúng ta phải hiểu được năng lực là gì? Làm thế nào để các năng lực
được hình thành và phát triển? Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là
như thế nào?
 Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với
những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo yêu cầu cho hoạt động
đó có hiệu quả. Vậy trong quá trình học thì năng lực của học sinh chỉ được thể
hiện rõ và hình thành thông qua các hoạt động. Để năng lực được hình thành
thông qua các hoạt động thì việc giáo viên tổ chức các hoạt động trong một giờ
học hay một hoạt động giáo dục là vô cùng cần thiết. Để các hoạt động trong
một giờ học đảm bảo thì việc thiết kế bài học và sử dụng các phương pháp
dạy học cũng như hình thức tổ chức các hoạt động là chủ đạo. Vì vậy phải đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là một nhiệm
vụ thường xuyên và liên tục trong quá trình dạy học để hình thành và phát triển
năng lực của học sinh. Mỗi một học sinh đều có những tiềm năng thế mạnh và
tiềm ẩn những kỹ năng khác nhau để hình thành năng lực. Chỉ có điều ai là
người giúp các em những năng lực ấy được hình thành? Vậy mỗi người thầy,
cô chúng ta sẽ làm gì và làm như thế nào để phát huy được những tiềm năng
tiềm ẩn trong mỗi học sinh. Bản thân tôi nghĩ để có thể đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh thì đòi hỏi giáo viên phải
không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở
đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ
giảng dạy tốt rèn học sinh tốt. Việc dạy học sinh hình thành kiến thức qua mỗi
bài học thì điều đó có thể đơn giản nhưng để dạy và hình thành cho học những
năng lực và biến các năng lực ấy trở thành thói quen như cơm ăn nước uống 4
hàng ngày để các em có thể tự chủ trong mọi tình huống mỗi ngày điều đó mới
thật sự là khó khăn. Khó khăn đó không phải là chúng ta không làm được. Vậy
muốn làm được thì giáo viên phải biết tìm các biện pháp cho chính mình để
rèn học sinh hình thành năng lực để việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực
đạt hiệu quả như: Rèn sự mạnh dạn tự tin; cách thiết kế bài học theo hướng tiếp
cận năng lực học sinh; kĩ thuật đặt câu hỏi qua các mức độ; linh hoạt sử dụng
các phương pháp học tập tích cực: Học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết
vấn đề, phương pháp bàn tay nặn bột; phát triển kĩ năng hội thoại giao tiếp
trong giờ học,...
 Qua quá trình công tác, bản thân tôi nhận thấy giáo viên cần chú ý quan sát
đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh nhút nhát, chưa mạnh dạn trước
tập thể, e ngại khi gặp người ngoài...Để từ đó tìm ra nhiều phương pháp dạy học
mới tích cực kích thích tính mạnh dạn tự tin của các em, để các học sinh có sự
chủ động tìm tòi mới trong các buổi học, tiết học. Đồng thời dạy học cần bám
sát chương trình, thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
trong các tiết học để tạo cho các em có cơ hội được bày tỏ được chia sẻ, được
nói nhiều dần các em sẽ thành thói quen và không sợ sệt khi phát biểu ý kiến.
Ngoài ra cần phải tạo sự thật gần gũi, quan tâm đến các em và tìm hiểu đến từng
hoàn cảnh gia đình của các em học sinh để chia sẻ, động viên các em học sinh
kịp thời, để các em tự tin khi đến trường.
 Năng lực không chỉ được hình thành qua những tiết học mà còn được hình
thành nhiều qua các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Qua các hoạt động ngoại khóa các em được giao lưu được tiếp xúc, được trải
nghiệm với môi trường rộng hơn như vậy năng lực của các em sẽ được hình
thành và phát triển hơn. Trong năm học 2019 - 2020 trường tôi đã tổ chức
nhiều hoạt động trải nghiệm như: Ngày tết trung thu, Tết làm điều hay, Tuyển
chọn MC, Ngày hội mổ heo đất...qua các hoạt động đó học sinh được giao tiếp
được chia sẻ, được và chạm với nhiều đối tượng nên có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự hình thành năng lực của các em.
 Ngoài các cuộc trải nghiệm theo quy mô trường chúng tôi luôn tăng cường các
cuộc trải nghiệm theo quy mô khối, lớp và có kế hoạch chi tiết cụ thể được ban
giám hiệu duyệt trước khi tổ chức cho các em. Trải nghiệm theo quy mô lớp càng
nhiều thì việc hình thành các kĩ năng cho học sinh càng có tác dụng vì vậy tôi khá
chú trọng khi tổ chức cho học sinh tham gia. Học sinh là những người trực tiếp
tham gia các hoạt động trải nghiệm nên ngay từ đầu năm tôi đã cho học sinh xây
dựng ý tưởng xem trong năm các em thích được trải nghiệm những gì. Mỗi 1 học
sinh sẽ có kế hoạch trải nghiệm riêng, tổng hợp lại các ý tưởng của học sinh tôi sẽ
chắt lọc và lựa chọn các hoạt động trải nghiệm phù hợp với đối tượng, kinh tế và 5
tình hình thực tế của học sinh trong lớp. Từ đó đưa ra được kế hoạch trải nghiệm
cho lớp trong năm học. Mỗi tháng 1 lần với các cuộc trải nghiệm lớn gắn với chủ
điểm và hoạt động của trường. Ngay từ đầu năm học tôi đã cho học sinh thành lập
ban tổ chức các sự kiện để các em có thể tự điều hành một buổi sinh hoạt hay một
buổi tổ chức sinh nhật thậm chí là một buổi hoạt động trải nghiệm...Còn trong mọi
thời gian khi học sinh đến trường tôi luôn có biện pháp rèn kĩ năng cho học sinh
thông các các trải nghiệm nhỏ như: kĩ năng sắp xếp sách vở, kĩ năng vệ sinh cá
nhân, kĩ năng nói với người lớn tuổi...
 Do có kế hoạch chi tiết cụ thể và sự chuẩn bị chu đáo sau mỗi buổi trải nghiệm
đó tôi cảm nhận được học sinh lớp tôi các em đã trưởng thành hơn, mạnh dạn hơn
và chủ động các năng lực giao tiếp, tự giải quyết vấn đề.... đã tiến bộ hơn rất nhiều.
Sau những buổi trải nghiệm tôi đã ghi lại cảm nhận của từng học sinh từ những
cảm nhận đó tôi sẽ có hướng rèn cho từng học sinh ở giai đoạn tiếp theo. Giáo viên
phải làm bằng cái “tâm” của mình mới cảm nhận được sự sâu sắc khi cho các em
trải nghiệm. Nếu trải nghiệm xong rồi để đấy thì có lẽ việc làm chúng ta tổ chức ra
chỉ mang tính hình thức, chống đối mà thôi.
 2. Thực trạng.
 Trường Tiểu học Thị trấn Tân Dân được đổi tên thành Trường Tiểu học Thị
trấn Tân An từ ngày 15/4/2020. Trường học nằm ở trung tâm thị trấn Tân An. Hoàn
cảnh gia đình học sinh không đồng đều. Dân cư không phải hoàn toàn là người bản
địa mà do có nhiều người di cư từ nơi khác đến nên cách sống đa dạng hóa. Có
nhiều gia đình buôn bán kinh tế khá giả nhưng cũng có nhiều gia đình học sinh còn
có hoàn cảnh éo le như: mồ côi cả cha lẫn mẹ, hộ nghèo.... đặc biệt là các em ở tổ
dân phố Long Trì. Kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên ngoài việc học ở
trường các em phải lo phụ giúp gia đình. Bố mẹ đi làm công ty, làm ăn xa, mải
buôn bán làm kinh tế không có điều kiện sát sao với con cái nên việc dạy dỗ các
cháu hầu như phó mặc cho thầy cô ở trường. Do đặc thù ở thị trấn nên học sinh
được giao tiếp, va chạm nhiều nên trong mỗi bản thân học sinh đều có sự mạnh dạn
tự tin là yếu tố để hình thành năng lực tốt. Dân cư các nơi di cư về sinh sống hầu hết
là tầng lớp trí thức và buôn bán nên học sinh có những nhận thức vượt trội hơn so với
học sinh ở vùng nông thôn xa trung tâm.
 Năm học 2019 - 2020, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3C, tổng
số học sinh 31 em trong đó có 18 học sinh nam và 13 học sinh nữ. Là một lớp học
các em còn bé và có rất nhiều học sinh hiếu động. Có nhiều học sinh có hoàn cảnh
khó khăn như mồ côi cha, mồ côi mẹ, cả bố và mẹ đều đi nước ngoài nên chưa có
sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của gia đình. Hơn nữa, còn một số em ở các thôn xa
trung tâm ít có điều kiện tiếp xúc nơi đông người nên còn nhút nhát, ngại giao tiếp,
ít phát biểu chưa tự tin, một số em nói năng cộc lốc, không biết diễn đạt hết ý của 6
mình, còn một số em khả năng tập trung trong giờ học kém. Nhiều em không biết nói lời
cảm ơn, xin lỗi trong những tình huống thực tiễn. Vì vậy để lôi cuốn học sinh vào bài học
và hình thành được năng lực cho học sinh qua từng hoạt động học thì việc đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tiếp cận học sinh là vấn đề cần thiết.
 3. Đề xuất các giải pháp
 3.1. Rèn kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe qua các tiết học
 Để việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả thì điều
đầu tiên tôi quan tâm đó là kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe của học sinh
trong quá trình học. Không phải tự dưng những kĩ năng đó sẽ được hình thành
trong mỗi học sinh mà phải do giáo viên chúng ta rèn luyện. Nếu dạy học theo
hướng tiếp cận năng lực học sinh mà chúng ta rèn được những kĩ năng đó thành
thói quen thì qua mỗi hoạt động học năng lực của học sinh sẽ được thể hiện một
cách rõ ràng. Kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe của học sinh trong quá
trình học hiện nay đang là một vấn đề rất được quan tâm. Để hình thành cho học
sinh 2 kĩ năng này thành thói quen thì bản thân tôi cảm thấy không phải đơn giản.
Ở lớp tôi chủ nhiệm thì quả thật 2 kĩ năng này ở học sinh vô cùng mờ nhạt. Vì vậy
ngay từ đầu năm học tôi đã chú tâm rèn cho các em.
 Hình thành kĩ năng cộng tác:
 * Tôi cho học sinh làm việc cá nhân xong và tôi đã tự định hình ra các bước để
cho học sinh thực hiện việc cộng tác (ban đầu phải là sự cộng tác có chủ định của
cô giáo). Các bước đó là:
 Bước 1: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm đôi
 Bước 2: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm 3
 Bước 3: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm 4
 Bước 4: Yêu cầu học sinh chia sẻ với các thành viên trong nhóm 4 (không
chỉ chia sẻ theo các cạnh của hình vuông mà phải chia sẻ theo cả đường chéo
của hình vuông). Sơ đồ chia sẻ nhóm 4 khi học sinh tương tác.
 HS HS
 HS HS
 Khi tự định hình ra các bước như vậy thì tôi cho học sinh tập cộng tác và tập
xong thì học sinh tự nói với bạn để nhớ được mình phải làm gì khi mình làm bài
xong bài tập (Quá trình này mất phải đến 1, 2 tuần). Khi tập nhiều thì dần sẽ hình
thành được thói quen. Lúc đó học sinh sẽ chủ động cộng tác và không cần nhớ đến
các bước của cô nữa. Khi đã thành thói quen thì học sinh không những cộng tác 7
chia sẻ ở nhóm 4 mà có thể đi ra khỏi chỗ muốn hỏi bạn và cộng tác với các bạn ở
dãy bên. Lúc này học sinh đã thật sự chủ động. Khi đã thành thói quen thì học sinh
đã chủ động “cộng tác”. Có vấn đề bản thân mình khó hiểu hay gặp khó khăn trong
quá trình học là các em đã tự tìm kiếm sự trợ giúp của bạn cũng như của cô. Ở lớp
tôi khi làm như vậy tôi cảm thấy thật sự hiệu quả. Trong một thời gian khoảng 3,4
tuần những học sinh có năng lực tốt các em đã tham gia sâu vào quá trình học và sự
cộng tác của các em thể hiện rõ. Như em Trần Duy Hưng, Phan Anh Huy, Trần
Thùy Linh....các em đã luôn thể hiện “ Không biết thì hỏi” và đã chủ động giúp đỡ,
chia sẻ hướng dẫn bạn của mình trong quá trình học.
 * Hình thành kĩ năng lắng nghe:
 Khi sự cộng tác được hình thành thì học sinh sẽ dẫn biết lắng nghe. Ban
đầu cũng phải tập cho học sinh khi bạn nói, cô nói tất cả lớp mắt phải nhìn vào
bạn, vào cô. Tôi cũng phải luyện tập cho học sinh đến 1 tuần liên tục
 Sau đó cho học sinh biết được tác dụng của việc lắng nghe. Tập cho học
sinh lên chia sẻ với các bạn về sở thích của mình nhưng các bạn không nghe
và đặt câu hỏi cho học sinh: Nhìn các bạn không nghe mình nói em có cảm
nhận như thế nào? Các em đã nhận ra rằng khi mình nói người khác không
nghe thì bản thân mình đã không được người khác tôn trọng, các em sẽ thấy
buồn. Từ đó muốn được người khác tôn trọng thì mình phải biết tôn trọng
người khác và mỗi em sẽ biết cố gắng lắng nghe bạn. Sau một thời gian
khoảng 2 tuần tôi rèn thường xuyên và liên tục thì tôi cảm thấy thật sự hiệu
quả. Khi học sinh có kĩ năng lắng nghe thì cũng đã giúp tôi phần nào việc giữ
trật tự của học sinh trong lớp. Kĩ năng lắng nghe thật sự quan trọng trong quá
trình học. Nghe – nhìn – nói của học sinh như 3 mắt xích liên kết chặt chẽ với
nhau nó tạo động lực cho giáo viên để hình thành năng lực cho chính các em
qua từng hoạt động và nhiệm vụ bài học. Vậy kĩ năng cộng tác và kĩ năng
lắng nghe của học sinh được hình thành và trở thành thói quen thì nó chính là
tiền đề để tôi “Định hướng cho học sinh tham gia sâu vào các cuộc hội
thoại trong tiết học” phát triển năng lực học sinh. Để phản biện, giao tiếp
được trong tiết học thì giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng lắng nghe tích
cực. Đó là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc của mình để hoàn toàn tập
trung vào những gì mà bạn nói, cô nói. Kĩ năng lắng nghe nó bao gồm các
hoạt động liên quan đến nhau và hầu như đều xảy ra theo một chuỗi liên tiếp.
Đó là: tham dự- diễn giải- ghi nhớ- đánh giá- đáp lại. Việc lắng nghe đòi hỏi
sự phối hợp các hoạt động thể chất và tinh thần nên nó bị chi phối bới các rào
cản về cả hai hoạt động đó. Khi đã có kĩ năng lắng nghe tích cực thì học sinh
sẽ có những phản hồi tích cực. Để có kĩ năng phản biện thì học sinh phải có
các kĩ năng sau: quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích. 8
Bởi vậy, muốn rèn cho học sinh thói quen lắng nghe tích cực cần phải rèn cho
học sinh nhận biết và sửa chữa những rào cản đó.
 Học sinh lắng nghe, chia sẻ
 3.2. Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực: giao tiếp - đối thoại - phản biện
trong quá trình dạy học
 Trong dạy học theo phương pháp nào đi chăng nữa thì việc sử dụng kĩ thuật
dạy học là hết sức cần thiết. Nó là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành
công trong tiết học. Đôi khi chúng ta sẽ có sự nhầm lẫn giữa kĩ thuật dạy học và
phương pháp dạy học. Để tránh sự nhầm lẫn đó tôi nghĩ mình cần nắm rõ và hiểu
kĩ thuật dạy học nó là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên trong
các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các
Kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là những thành
phần của phương pháp dạy học.
 Khi dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm thì việc sử dụng
các kĩ thuật dạy học tích cực là việc làm thường xuyên và liên tục. Từ các kĩ
thuật dạy học mà giáo viên sử dụng nó sẽ góp phần hình thành năng lực và
phẩm chất của học sinh qua bài học. Đó cũng là yêu cầu của Thông tư 22 đặt ra.
Học xong một bài học thì ngoài việc đạt được chuẩn về kiến thức, kĩ năng thì
học sinh còn phải đạt được mục tiêu về năng lực, phẩm chất. Để hình thành và
phát triển năng lực cho học sinh, tôi rất chú trọng sử dụng kĩ thuật tổ chức cho
học sinh phát biểu, phản biện (giao tiếp – đối thoại) trong bài học. Bởi vì ngôn
ngữ gắn liền với tư duy, chỉ khi học sinh có sự hiểu biết về nội dung bài học thì 9
các em mới có kiến thức để phản biện hay hỏi những thắc mắc của mình với
bạn với cô.
 Để định hướng cho học sinh tham gia sâu vào các cuộc hội thoại trong tiết
học, ban đầu học sinh rất khó đặt câu hỏi để bắt đầu cuộc hội thoại khi học sinh
chưa thành thói quen. Vì vậy tôi đã chủ động đặt câu hỏi cho học sinh trả lời
trước sau đó cho học sinh đặt lại câu hỏi đó với bạn của mình một vài lần cho
học sinh quen cách hỏi (thời điểm này gần như cho học sinh bắt trước cách hỏi)
lúc này thì cả học sinh chưa mạnh dạn hay chưa biết đặt câu hỏi để hỏi đáp
cũng dám phát biểu đặt lại câu hỏi cô giáo định hướng để hỏi bạn. Chỉ cần làm
mẫu một vài lần học sinh sẽ biết cách đặt câu hỏi và cuộc hội thoại sẽ diễn ra
tự nhiên.
 Khi đã nhận thức được hỏi bạn những gì tôi sẽ cho học sinh chuẩn bị câu
hỏi trước ở nhà bằng cách cho học sinh xem bài trước. Hôm sau có những môn
gì, mỗi môn các em chỉ cần đặt 2 đến 3 câu hỏi và ghi ra nháp để ngày mai hỏi
bạn trong tiết học. Các câu hỏi của từng môn sẽ được tôi trực tiếp kiểm tra
trong giờ truy bài, hoặc tôi cho học sinh tự kiểm tra chéo nhau trong giờ truy
bài. Khi có sự dám sát học sinh sẽ có ý thức chuẩn bị. Khi đã có sự chuẩn bị thì
học sinh sẽ chủ động và tự tin hơn khi tham gia vào hoạt động hội thoại giao
tiếp trong tiết học.
 Học sinh chuẩn bị câu hỏi ở nhà
 Học sinh đã biết đặt câu hỏi trong quá trình hội thoại và kĩ năng chia sẻ
của học sinh đã tốt tôi sẽ định hướng cho cuộc hội thoại diễn ra lâu hơn và sâu
hơn. Tôi đã phát triển cuộc hội thoại đa chiều cho các em. Tức không chỉ 1 10
học sinh hỏi 1 học sinh trả lời mà lôi cuốn nhiều học sinh tham gia vào một
cuộc hội thoại kể cả giáo viên khi học sinh cần sự trợ giúp và khi học sinh khó
khăn thì giáo viên chủ động tham gia vào cuộc hội thoại để tháo gỡ khó khăn
cho học sinh.
 Trong quá trình dạy học khi rèn cho học sinh, tôi khá ấn tượng khi sử dụng
kĩ thuật giao tiếp - đối thoại - phản biện trong tiết toán lớp 3 khi thực hiện phép
chia số có ba chữ số cho số có một chữ số (phép chia có dư và thương có chữ
số 0). Nhiều câu hỏi của học sinh để tạo ra cuộc hội thoại phản biện khiến tôi
thật sự bất ngờ. Tư duy của các em được phát triển và năng lực của các em đã
được hình thành một cách thật sự
 917 3
 9 305
 0 1
 0
 17
 15
 2
 Khi học sinh đã thực hiện xong phép chia của mình ra bảng con, tôi cho một
học sinh lên bảng chia sẻ để tạo ra cuộc hội thoại. Ban đầu tôi chỉ định hướng học
sinh bằng cách giới thiệu các tên gọi như: số dư của lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ
ba, phép chia có mấy lượt chia... Sau đó tôi “thả” học sinh tự tham gia vào cuộc hội
thoại để giao tiếp – phản biện. Học sinh chia sẻ bài đặt ra các câu hỏi vào cuộc hội
thoại. Vậy cuộc hội thoại lúc này ở đây là gì? Đó chính là cuộc giao tiếp để làm rõ
bài làm của bạn thông qua các hệ thống câu hỏi. Ban đầu để định hướng cuộc hội
thoại tôi là người đã chủ động giơ tay như một người học sinh để xin đặt câu hỏi
trước. Câu hỏi đặt ra là: “Bạn cho mình hỏi trong phép chia của bạn số dư của lượt
chia thứ nhất bằng bao nhiêu?” Từ câu hỏi đó học sinh trên bảng trả lời và chỉ vào
chữ số 0 màu đỏ. Sau đó tôi để 2,3 học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho học sinh có
bài làm được chia sẻ theo lối tư duy đó. Sau đó cho học sinh đứng chia sẻ đặt lại
câu hỏi cho các học sinh dưới lớp. Trong quá trình cuộc hội thoại diễn ra giữa học
sinh – học sinh nếu học sinh gặp khó khăn tôi đã chủ động tương tác và tham gia
vào cuộc hội thoại đó để cùng tháo gỡ với học sinh. Có thể định hướng cho học
sinh mời học sinh khác biết câu trả lời hoặc là giáo viên giải thích để làm rõ hơn
câu trả lời. Như vậy tôi đã hình thành được cuộc hội thoại “ đa chiều” cho học sinh.
Từ đó học sinh đặt ra được các câu hỏi trong cuộc hội thoại. Các câu trả lời đó
chính là đã làm rõ “ vấn đề” trong phép chia . Học sinh đưa ra các câu hỏi : 11
 - Số dư của lượt chia thứ hai trong phép chia bằng bao nhiêu?
 - Số dư của lượt chia thứ ba trong phép chia bằng bao nhiêu?
 - Trong số 17 thì chữ số 7 ở đâu ra?
 - Để thực hiện phép chia này bạn dựa vào bảng chia mấy?
 - Trong phép chia của bạn số bị chia là bao nhiêu? số chia là bao nhiêu?
 - Muốn tìm số dư ở lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ ba bạn làm thế nào?
 - Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào?
 - Quy trình để thực hiện một lượt chia của bạn là gì? ( Chia, nhân ngược, trừ)
 - Phép chia của bạn là phép chia hết hay phép chia có dư? Vì sao?
 - Số dư của phép chia như thế nào với số chia? ...
 Từ một phép chia tưởng chừng chỉ có thể nhận xét đúng sai nhưng khi có sự
tham gia định hướng của học sinh thì có rất nhiều câu hỏi để làm rõ vấn đề cho học
sinh chia sẻ. Đó là cách duy trì một một cuộc hội thoại diễn ra lâu và sâu đạt hiệu
quả. Nếu giáo viên không có cách thì học sinh sẽ không biết đặt câu hỏi hay, mà
chỉ đặt những câu hỏi không trọng tâm làm mất thời gian của tiết học và năng lực
của học sinh không được hình thành từ kiến thức bài học đó là điều tôi đặc biệt
quan tâm. Cũng từ câu hỏi “Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào?” của
học sinh tôi đã linh hoạt phát triển thành một dạng toán mới “ Tìm số bị chia trong
một phép chia có dư” và từ câu hỏi “Số dư của phép chia như thế nào với số chia?”
tôi đã mở rộng ra cách tìm số dư lớn nhất trong một phép chia có dư bằng số chia
trừ đi 1 để cho các học sinh khá giỏi nắm được và giải được các bài toán khó hơn
ngoài chương trình sách giáo khoa. Khi cuộc hội thoại – giao tiếp – phản biện diễn
ra sâu và thành thói quen thì việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh sẽ
đạt hiệu quả tốt. Nhiều năng lực của học sinh được hình thành và phát triển giúp
các em tự tin tham gia trong quá trình học tập cũng như khi xử lí các tình huống
trong cuộc sống.
 Kĩ thuật dạy học này có ý nghĩa lớn lao đối với học sinh trong quá trình học.Ý
nghĩa thứ nhất xuất hiện khi học sinh lần đầu tiên xây dựng trong tâm trí mình
những ý tưởng cơ bản về nội dung kiến thức mình cần chiếm lĩnh đó là quá trình tư
duy. Ý nghĩa thứ hai nảy sinh khi học sinh sử dụng những ý tưởng, hiểu biết của
mình về nội dung kiến thức một cách hữa hiệu dùng để hỏi bạn hỏi cô, lúc này quá
trình tư duy sẽ chuyển sang giai đoạn giao tiếp – phản biện, đối thoại. Lúc này
năng lực của học sinh sẽ được bộc lộ rõ.
 Đối với học sinh Tiểu học thì ban đầu sử dụng kĩ thuật này ắt sẽ gặp nhiều khó
khăn vì vốn từ của các em còn hạn chế, nhận thức chưa được sâu rộng đồng thời sự 12
mạnh dạn tự tin cũng là rào cản khi các em tham gia đối thoại, phản biện trong giờ
học. Vì vậy để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả thì người giáo viên có vai trò hết
sức quan trọng trong việc định hướng, dẫn dắt, lôi cuốn học sinh với tình huống của
bài học. Phải tạo cho học sinh cơ hội được nói, được phát biểu, được bày tỏ trong
mọi lúc mọi nơi khi học sinh tới trường. Có như vậy mới dần bóc được lớp vỏ nhút
nhát vốn cố hữa trong con người mỗi học sinh.
 Trong tiết học để cuộc hội thoại của học sinh diễn ra sâu và lâu điều này không
phải dễ. Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh, có những học sinh đã mạnh dạn và
còn học sinh còn nhút nhát vì vậy tôi đã có tìm cho mình những cách làm riêng như
vậy để giúp các em có đủ tự tin để tham gia vào cuộc hội thoại giao tiếp trong các
tiết học để hình thành được các năng lực từ nội dung bài học.
 Để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả tôi thiết nghĩ giáo viên phải dần hình
thành cho học sinh thói quen chia sẻ, thói quen hỏi đáp trong giờ học. Những câu
hỏi xoay quanh nhiệm vụ học tập. Để học sinh biết đặt câu hỏi hay biết phản biện
lẫn nhau thì học sinh phải có kiến thức và làm chủ kiến thức trong quá trình học. Vì
vậy trong các tiết học hàng ngày giáo viên phải là người định hướng dẫn dắt cho
học sinh và hướng dẫn các em khi các em chưa có kĩ năng đối thoại. Để cuộc đối
thoại trong giờ học có hiệu quả thì điều tất yếu cần phải cho học sinh chuẩn bị bài
trước khi đến lớp đồng thời định hướng cho học sinh cách hỏi bạn. Có thể yêu cầu
học sinh ghi lại những câu hỏi mình muốn hỏi bạn qua một bài tập hoặc một tình
huống học tập. Hoặc trong các tiết học hàng ngày giáo viên cần đặt nhiều câu hỏi
để cho học sinh biết cách hỏi. Khi học sinh đã nhận biết và thành thói quen thì tất
cả những điều giáo viên muốn hỏi học sinh để khắc sâu bài hay mở rộng bài .... đều
được truyền tải đến học sinh và chính học sinh là những người làm chủ được những
kiến thức đó. Và khi đó năng lực của học sinh mới thực sự được hình thành. Để có
sự giao tiếp tốt trong tiết học hay trong một tình huống học tập thì giáo viên phải
dành cho học sinh thời gian tư duy cá nhân sau đó mới phát biểu trong nhóm, trong
lớp. Điều này là thật sự cần thiết. Chỉ khi đã trải qua quá trình tư duy thì học sinh
mới nhận thức được vấn đề và thực hiện được việc giao tiếp.
 Khi sử dụng kĩ thuật này trong dạy học nếu không biết định hướng và chắt lọc
sẽ có hạn chế đó là mất nhiều thời gian. Vì vậy giáo viên dù không làm chủ cuộc
đối thoại nhưng phải là người định hướng cho cuộc đối thoại của học sinh để đảm
bảo về chất lượng cũng như số lượng cuộc giao tiếp trong 1 hoạt động học. Khi
thường xuyên và liên tục tổ chức kĩ thuật dạy học phản biện – giao tiếp thì năng lực
học sinh được hình thành rõ rệt là điều kiện thuận lợi để tôi thiết kế bài học và sử
dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy học theo định hướng phát triển năng
lực học sinh. 13
 3.3. Cách thiết kế bài học theo hướng tiếp cận năng lực và sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực.
 Trong quá trình dạy học để học sinh hình thành được năng lực thì cách thiết kế
giáo án theo hướng tiếp cận năng lực là điều rất quan trọng. Đòi hỏi giáo viên phải
tư duy và đưa ra các định hướng, các dự kiến, các tình huống có thể xảy ra trong
giờ học để xử lý một cách triệt để. Nếu thiết kế giáo án theo mạch thẳng thì năng
lực của học sinh ít được hình thành và không nảy sinh được những tình huống có
vấn đề phát triển được tư duy của học sinh. Với bản thân tôi trong quá trình dạy
học để thiết kế một giáo án theo hướng tiếp cận năng lực học sinh thì trước tiên tôi
chú trọng đó là phần mục tiêu bài học. Mục tiêu bài học tôi xây dựng bám sát vào
đối tượng học sinh của lớp tôi. Do năng lực chỉ được hình thành từ những hoạt
động nên ngay từ phần mục tiêu về kiến thức kĩ năng tôi đã sử dụng các động từ
để thể hiện. Mỗi một động từ là thể hiện một hoạt động mà học sinh phải thực hiện
trong tiết học. Đó cũng chính là từng hoạt động tôi sẽ thiết kế trong bài. Trong quá
trình dạy học tôi luôn chú trọng đến việc dạy học phân hóa học sinh nên tôi đã xác
định mục tiêu kiến thức kĩ năng theo các mức độ.
 Từ những mục tiêu về kiến thức kĩ năng đó tôi sẽ đưa ra được các mục tiêu về
năng lực. Quả thật đôi khi mỗi giáo viên chúng ta còn đưa ra những mục tiêu về
năng lực rất chung chung, có khi những mục tiêu về năng lực của bài này sẽ lấy
làm mục tiêu của bài khác. Vậy để thể hiện rõ được năng lực của từng bài từng
môn học trước hết tôi dựa vào 3 nhóm năng lực của thông tư 22 cần đạt: Tự phục
vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề. Và tiếp cận với những năng lực
cốt lõi của “Chương trình giáo dục phổ thông mới” (gồm 3 năng lực chung, 7
năng lực đặc thù). Sau đó đưa ra những năng lực đặc thù của từng môn học, từng
bài học dựa trên mục tiêu về kiến thức kĩ năng. Trong từng bài phải xác định được
một năng lực đặc trưng của tiết học đó để hình thành. Ví dụ trong môn toán khi
xây dựng mục tiêu về năng lực thì các mục tiêu ấy phải là mục tiêu về: Giao tiếp –
hợp tác toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học (phát hiện vấn đề, định
hướng giải quyết vấn đề, thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề ở
mức độ đơn giản, kiểm tra xem xét giải pháp); tư duy lập luận toán học (tóm tắt bài
toán bằng ngôn ngữ toán học); sử dụng công cụ phương tiện toán học. Với mục tiêu
về năng lực có những mục tiêu của từng bài khi học sinh đã được hình thành từ
những tiết học trước thì những bài sau mục tiêu ấy nếu có xuất hiện theo một quá
trình thì lúc đó phải đưa ra ở mức độ là phát triển chứ không phải là hình thành
nữa. Xác định và thực hiện được như vậy thì năng lực của học sinh sẽ được hình
thành và phát triển theo một quá trình mà không bị đứt quãng.
 Khi xây dựng mục tiêu về phẩm chất học sinh cần đạt sau mỗi tiết học tôi dựa
vào 4 nhóm phẩm chất của Thông tư 22: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; 14
trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương. Đồng thời tiếp cận với 5 nhóm phẩm chất
của “Chương trình giáo dục phổ thông mới” Khi xác định phẩm chất cần đạt tôi
cũng xây dựng theo mức độ từ hình thành đến phát triển.
 Mặc dù chưa thực hiện “Chương trình giáo dục phổ thông mới” nhưng bản
thân tôi đã tiếp cận và thực hiện trong quá trình giảng dạy cũng như khi thiết kế bài
học. Tôi thường thoát li sách giáo khoa và xây dựng kiến thức mới dựa trên mục
tiêu bài học, đi từ thực tế học sinh hay từ những kiến thức, những điều học sinh đã
biết. Đó là những điều gần gũi, quen thuộc với học sinh nhất từ đó đưa ra các tình
huống có vấn đề liên quan đến việc hình thành kiến thức mới để học sinh giải
quyết. Cách thiết kế theo ý tưởng như vậy khiến tiết học trở nên nhẹ nhàng, học
sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách tự nhiên. Thể hiện rõ được việc hình thành và
phát triển năng lực cho học sinh trong tiết học.
 Trong khi thiết kế bài dạy tôi thường sử dụng các các phương pháp dạy học
tích cực như: Phương pháp học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề,
phương pháp bàn tay nặn bột... để phát huy năng lực của học sinh.
 Khi đã lựa chọn được phương pháp cho bài học thì việc lựa chọn hình thức tổ
chức để thể hiện các hoạt động là vấn đề cốt lõi trong tiết học. Năng lực học sinh
được hình thành thế nào hay có phát triển được hay không là do cách tổ chức các
hoạt động học có được thể hiện rõ ràng và phù hợp để phát triển năng lực cho học
sinh hay không?
 Khi dạy môn toán lớp 3 bài “Chu vi hình chữ nhật” tôi đã thiết kế giáo án
theo hướng tiếp cận năng lực học sinh và cũng như nhiều tiết học học khác để hình
thành và phát triển năng lực cho học sinh.
 CHU VI HÌNH CHỮ NHẬT
 I. MỤC TIÊU
 1. Kiến thức, kĩ năng
 - Xây dựng và ghi nhớ được công thức tính chu vi hình chữ nhật.
 - Biết vận dụng kiến thức giải được các bài toán về chu vi hình chữ nhật trong
chương trình và ngoài thực tế.
 - Rèn kĩ năng tính chu vi hình chữ nhật
 2. Năng lực
 - Có cơ hội hình thành và phát triển năng lực tư duy qua việc phát hiện và
giải các bài toán tính chu vi của hình chữ nhật.
 - Góp phần phát triển năng lực tự học qua việc tìm cách tính và tự giải các bài
toán tính chu vi hình chữ nhật . 15
 - Giải quyết được các vấn đề toán học, vận dụng tính chu vi các hình trong
thực tế.
 - Hình thành thói quen cộng tác
 - Biết đánh giá, chia sẻ bài làm của bạn
 3. Phẩm chất
 - Phát triển các phẩm chất: chăm học, tự tin,
 - Hứng thú học tập môn toán qua việc thực hành tính chu vi của bảng lớp .
 II. CHUẨN BỊ
 - Mỗi học sinh một miếng bìa hình chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm,
GV: phiếu học tập, thước mét
 III. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC
 Hoạt động 1: Hình thành cách tính chu vi của hình chữ nhật
 a) Mục tiêu:
 - Xây dựng được công thức tính chu vi của hình chữ nhật
 - Hình thành thói quen cộng tác.
 - Thông qua hoạt động 1, học sinh hình thành các năng lực :
 + Tư duy, lập, luận toán học.
 + Năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề.
 + Năng lực mô hình hóa toán học, xây dựng được công thức tính chu vi hình
chữ nhât.
 Tiến trình Các hoạt động và suy nghĩ của
 Hỗ trợ của giáo viên
 GQVĐ học sinh
 Tạo - Học sinh quan sát lắng nghe - GV đưa ra tình huống: Cô
 tình có miếng bìa hình chữ nhật có
 huống có chiều dài 4cm, chiều rộng
 vấn đề 3cm. Hãy tìm cách tính chu vi
 của miếng bìa hình chữ nhật
 này?
 Bước 1: “Tình chu vi của miếng bìa hình - Yêu cầu học sinh nêu lại
 Nhận ra chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều cách tính chu vi hình tứ giác,
 vấn đề rộng 3cm ?” tam giác, hình gấp khúc, 16
 - Hình thức tổ chức:
 - Hỏi đáp
 Hình thức học tập: Hoạt động cá
 nhân + hoạt động cả lớp
 Bước 2: - Dựa vào cách tính độ dài đường gấp
Học sinh khúc khép kín.
suy đoán
 - Học sinh hiểu HCN là một hình tứ - Gợi ý cho học sinh
 giác.
 - Chu vi hình chữ nhật là chu vi hình
 tứ giác....
 Hình thức học tập: Hoạt động cá
 nhân
Bước 3,4: - Chu vi miếng bìa HCN là: 4+3+4+3 - Từ các cách làm của học
 Đưa ra =14 (cm) sinh Gv hỗ trợ đưa ra cách
 các giải - Chu vi miếng bìa HCN là: 4 + 4 + làm:
 pháp, 3+3 = 14(cm) (4+3) x 2=14 (cm)
Triển khai - Chu vi miếng bìa HCN là: 3+3+4+4
 các giải = 14 (cm)
 pháp
 Hình thức học tập:
 (Hoạt động cá nhân +nhóm nhỏ + Hình thức tổ chức: Yêu cầu
 cả lớp) Học sinh làm nháp, bảng phụ
 Bước 5: - Học sinh nhận ra rằng dựa vào - Tổ chức chia sẻ ý kiến về
 Khẳng cách tính chu vi hình tứ giác để tính kết quả.
 định kết chu vi hình chữ nhật - Giúp học sinh đưa ra kết
 quả - Rút ra công thức tính chu vi HCN luận về công thức tính chu vi
 (chiều dài+chiều rộng) x 2 hình chữ nhật.
 Hình thức học tập: Hình thức tổ chức: Hỏi đáp,
 phân tích
 (Hoạt động cá nhân + cả lớp)
 Hoạt động 2: Vận dụng thực hành 17
 Mục tiêu:
 - Biết vận dụng kiến thức giải được các bài toán về chu vi hình chữ nhật.
 - Áp dụng vào thực tế tính được chu vi của bảng lớp
 - Rèn kĩ năng tính chu vi hình chữ nhật.
 Năng lực: tự giải quyết vấn đề toán học. Tự giải được các bài tập liên quan đến
tính chu vi các hình chữ nhật gắn với thực tế.
 Bài 1:
 - Nêu yêu cầu của bài toán.
 - Yêu cầu học sinh làm bài cá nhân vào phiếu học tập + bảng nhóm
 - Tổ chức học sinh chia sẻ, đánh giá.
 - Yêu cầu Học sinh nhắc lại cách tính chu vi HCN
 Bài 2: Vận dụng vào thực tế:
 - Tính chu vi của bảng lớp
 - Yêu cầu học sinh đo chiều dài và chiều rộng của bảng lớp
 - Yêu cầu học sinh tính chu vi của bảng lớp: Học sinh làm bài cá nhân
vào vở + bảng nhóm
 - Tổ chức đánh giá, chia sẻ
 Hoạt động 3: Củng cố - dặn dò:
 - Nhắc lại cách tính chu vi của hình chữ nhật
 - Sau tiết học tìm cách tính chu vi của bàn học.
 Vậy để thiết kế giáo án theo hướng tiếp cận năng lực thì việc xác định mục tiêu
là cần thiết, định hướng các chuỗi hoạt động là quan trọng và lựa chọn phương
pháp dạy học phù hợp, các hình thức tổ chức các hoạt động là quan trọng nhất.
 3.4. Tạo không khí thoải mái trong tiết học. Chú trọng xây dựng mối quan
hệ học tập (học sinh – học sinh; học sinh – bài học) và giảng dạy (giáo viên –
học sinh; giáo viên - bài học); các hình thức tổ chức (cá nhân – nhóm nhỏ - cả
lớp) trong các tiết học hàng ngày.
 Trong các tiết học tôi luôn thể hiện mình là một người giáo viên vui tính mặc dù
mình khá khó tính. Tôi thường pha đùa với học sinh bằng những câu nói hay câu
chuyện hài hước để giúp học sinh cảm thấy thoải mái trong giờ học. Từ sự thoải mái
đó học sinh sẽ nói nhiều hơn, muốn phát biểu hơn kể cả những học sinh nhút nhát. 18
 Trong mối quan hệ giữa học sinh – học sinh, tôi quan tâm đến việc sắp xếp
chỗ ngồi của học sinh. Ban đầu tôi cho học sinh tự nhận đôi bạn cùng tiến của mình
để các em tự chọn chỗ ngồi. Nếu mình tôn trọng ý kiến của học sinh thì các em sẽ
chọn vị trí ngồi không hợp lí vì sẽ có 2 bạn cùng học yếu ngồi cùng nhau sẽ khó
chia sẻ với nhau trong giờ học, hay 2 bạn nam, 2 bạn nữ sẽ chọn cùng nhau để ngồi.
Từ đó tôi lại có sự định hướng giúp các em tìm bạn cùng tiến phù hợp. Nếu nảy
sinh học sinh A không muốn ngồi cùng với học sinh B thì tôi đã tìm hiểu nguyên
nhân và giải quyết triệt để mối quan hệ đó. Nếu mối quan hệ của học sinh không tốt
thì dẫn đến cái chất trong giờ học đạt hiệu quả không cao. Tức là mối quan hệ giữa
học sinh – bài học đạt hiệu quả không cao. Và cũng gây khó khăn cho việc hình
thành năng lực cho học sinh.
 Mối quan hệ giữa học sinh – học sinh nó ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức tổ
chức các hoạt động học. Bản thân tôi trong quá trình dạy học tôi đặc biệt quan tâm
đến hình thức học tập cá nhân nhóm nhỏ cả lớp. Hình thức tổ chức này có
lẽ không xa lạ gì với chúng ta nhưng nếu sống chậm để nghĩ thì sẽ thấy được 3
hình thức tổ chức này có mối quan hệ chặt chẽ về góc độ tư duy của học sinh. Nó
như là 3 mắt xích liên kết tư duy của học sinh thành một khối thống nhất trong quá
trình học vì “ngôn ngữ gắn liền với tư duy”. Tôi luôn coi trọng việc học cá nhân
của học sinh. Vì khi các em đã có sự tư duy cá nhân nếu giải quyết được nhiệm vụ
học tập thì các em sẽ chủ động cộng tác để hướng dẫn bạn lúc này hình thức học
tập theo nhóm nhỏ sẽ tự được hình thành. Còn nếu khi tư duy cá nhân của học sinh
các em không tìm ra cách giải quyết được nhiệm vụ học tập thì cũng là một lần các
em được suy nghĩ về nhiệm vụ học tập đó. Và bằng thói quen cộng tác khi đã được
hình thành thì các em sẽ biết hỏi bạn, hỏi cô để giải quyết khó khăn đó và lúc đó
hình thức học tập nhóm nhỏ được hình thành. Không giải quyết được nhiệm vụ
học tập là do năng lực “Tự học và giải quyết vấn đề” hạn chế. Nhưng khi cộng
tác thì năng lực giao tiếp lại được hình thành và là “ bàn đạp” để hình thành nên
năng lực giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học đối với những học sinh yếu về
kiến thức, chậm về năng lực giáo viên sẽ rất vất vả. Trong quá trình rèn học sinh
để việc tổ chức các hình thức dạy học đạt hiệu quả, khi học sinh làm cá nhân xong
đôi khi các em đã chủ động cộng tác chia sẻ theo nhóm nhỏ. Nhưng khi chia sẻ
trước lớp thì nhiều học sinh lại không giơ tay phát biểu. Mặc dù đã được tư duy cá
nhân, được thảo luận theo nhóm nhỏ theo nhu cầu nghĩa là học sinh đã giải quyết
vấn đề đó. Vậy các em không giơ tay chia sẻ trước lớp thì nguyên nhân ở đây là gì?
Đó phải chăng là các em chưa tự tin với cách giải quyết của mình hay là việc chia
sẻ cộng tác chưa đạt hiệu quả? Vấn đề này tôi nghĩ không phải ở riêng học sinh lớp
tôi mà các lớp đều có. Tôi đã tìm hiểu và đưa ra biện pháp trong quá trình dạy bằng
cách quan sát học sinh khi các em chủ động cộng tác để tìm ra vấn đề. Tôi đã lắng
nghe việc chia sẻ của các em xem khi các em cộng tác với bạn thì nhiệm vụ học tập 19
có được giải quyết không, hay các em nói chuyện riêng về vấn đề khác. Từ đó sẽ
tìm được nguyên nhân và khắc phục. Thời gian đầu khi hiện tượng học sinh như
vậy tôi sẽ nói với các em rằng: Chúng mình đã được suy nghĩ và chia sẻ, cộng tác
hỏi bạn. Vậy bạn nào không dám giơ tay phát biểu thì chứng tỏ là khi các em cộng
tác với bạn của mình ko phải liên quan đến bài học mà là nói chuyện riêng”. Thì
quả thật tôi thấy có tác dụng. Các em đã chủ động chia sẻ trước lớp. Hoặc có những
trường hợp khi phát hiện ra các em không dám chia sẻ trước lớp là do các em còn
chưa mạnh dạn và chưa tự tin với cách giải quyết của mình, tôi đã động viên học
sinh rằng “các con mạnh dạn lên, sai thì cô và các bạn cùng sửa”. Thậm chí có
nhiều trường hợp khi cộng tác theo nhóm nhỏ nhưng các em không tìm được cách
giải quyết vẫn gặp khó khăn. Trong quá trình quan sát học sinh nếu thấy vậy tôi đã
chủ động cho dừng việc cộng tác theo nhóm nhỏ lại và chuyển sang hướng dẫn cả
lớp bằng những câu hỏi gợi mở. Sau đó tiếp tục cho các em tư duy cá nhân và cộng
tác lại từ đầu. Nếu lúc này chúng ta dừng ngay lại đưa ra kết quả thì tư duy của học
sinh không được phát triển và năng lực cũng không được hình thành. Vậy với các
cách làm đó là tôi nghĩ mình đã giải quyết tốt được hình thức tổ chức học tập cả
lớp hình thành được năng lực học sinh đó là năng lực giao tiếp. Khi quan sát để
tương tác và giúp học sinh giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập thì mỗi giáo viên
chúng ta đã giải quyết tốt được mối quan hệ lớp học giữa giáo viên – học sinh. Đó
cũng chính là điều kiện thiết yếu tác động đến kết quả của mối quan hệ giữa học
sinh – bài học.
 Hình thức học cá nhân – nhóm nhỏ
 Để xây dựng các mối quan hệ học tập thì bản thân tôi đã luôn chú trọng tạo
dựng mối quan hệ học tập và từ bỏ mối quan hệ giảng dạy. Mối quan hệ giảng
dạy là mối quan hệ một chiều, thụ động, thiếu sự phối hợp giúp đỡ và cộng tác giữa
các học sinh với nhau. Mối quan hệ học tập là mối quan hệ học bằng giao tiếp tự
nhiên, bằng “sự quan tâm điềm tĩnh” Và chuyển các bước của bài học sang chú 20
trọng vào việc học của từng học sinh. Đồng thời tổ chức tốt và triệt để 3 hình thức
học tập đó thì rất nhiều năng lực của các em sẽ được hình thành như: Năng lưc giao
tiếp, hợp tác, mạnh dạn, giải quyết vấn đề...Tổ chức tốt hình thức tổ chức như vậy
là một giải pháp vô cùng quan trọng để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực
học sinh.
 3.5. Rèn sự mạnh dạn tự tin
 Muốn dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đạt hiệu quả thì việc rèn sự mạnh
dạn tự tin cho học sinh là điều vô cùng quan trọng. Bởi vì khi các em mạnh dạn, tự
tin thì các em mới làm chủ được mọi hoạt động trong tiết học và mới đạt được cái
đích mà người giáo viên đặt ra trong tiết học. Vậy ở lớp tôi chủ nhiệm tôi đã đặc
biệt chú ý và luôn cố gắng rèn cho các em sự mạnh dạn, tự tin. Các biện pháp tôi đã
làm đó là:
 a. Rèn sự mạnh dạn qua các tiết học hàng ngày
 Trong giờ truy bài, tôi cho một em điều hành lớp (em học sinh điều hành lớp
không cố định) cho học sinh hỏi nhau về những kiến thức cũ của những môn học
có trong buổi học đó. Ban đầu học sinh còn lúng túng khi đặt câu hỏi để hỏi nhau
nhưng tôi đã định hướng cho các em rằng muốn đặt được câu hỏi cho bạn thì các
em phải xem thời khóa biểu hôm sau có những tiết gì để ôn lại những bài học đó và
ghi ra những câu hỏi để mai mình sẽ hỏi bạn. Từ đó tôi thấy các em rất hứng thú và
đưa ra những câu hỏi rất trọng tâm. Đó cũng là biện pháp rèn kĩ năng cho các em
có thói quen học bài cũ ở nhà và tự các em sẽ hình thành được kĩ năng nhớ thời

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_cac_giai_phap_de_day_hoc_theo_huong_ti.pdf