SKKN Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Lớp 1

pdf 21 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Lớp 1

SKKN Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Lớp 1
 PHẦN I: MỞ ĐẦU
 1. Lí do chọn sáng kiến
 Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển toàn diện năng lực cá nhân,
tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hôi chủ nghĩa,
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân.
 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là điều hết sức cần thiết cho tương lai. Kỹ
năng sống được hình thành theo một quá trình, hình thành một cách tự nhiên qua
những trải nghiệm trong cuộc sống và qua giáo dục mà có. Có nhiều nhóm kĩ năng
sống như: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng quản lí bản
thân...Dù là kĩ năng nào cũng đều rất quan trọng và cần thiết với mỗi con người. Cho
nên, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có một tầm quan trọng rất lớn.
 Ở bậc tiểu học, các môn học vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu
về Toán học, Khoa học và Nhân văn, vừa cung cấp cho học sinh những tri thức sơ
đẳng về các chuẩn mực hành vi xã hội gắn với những kinh nghiệm đạo đức, để từ đó
giúp học sinh hình thành kĩ năng sống, biết phân biệt đúng sai, làm theo cái đúng, ủng
hộ cái đúng; đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, thôi thúc các em hành
động theo chuẩn mực đạo đức và thói quen đạo đức. Chính vì vậy việc rèn kĩ năng
sống ở bậc Tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng mà người người làm công tác giáo
dục cần quan tâm.
 Để nâng cao kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học, với cương vị là người giáo viên,
bản thân tôi hết sức băn khoăn và trăn trở. Làm thế nào để nâng cao kĩ năng sống cho
học sinh? Làm thế nào để học sinh biết cách vận dụng kĩ năng sống vào trong cuộc
sống hằng ngày? Với mong muốn góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nói trên,
tôi chọn đề tài: “Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học và
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở lớp 1”. Vấn đề mà chắc hẳn không chi riêng bản thân tôi mà rất nhiều đông nghiệp khác cũng như phụ huynh học sinh hết sức
quan tâm.
 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến.
 Tìm ra một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh thông qua các môn học và
hoạt động ngoài giờ lên lớp.
 Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp học
sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử
có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật 
 Học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập,
tự tin khi giải quyết vấn đề, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu để trang bị cho các
em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời.
 3. Đối tượng nghiên cứu
 Các em học sinh trong lớp 1C - trường Tiểu học Thị trấn Tân An.
 Các tiết học hàng ngày, các tiết hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở lớp 1C -
 trường Tiểu học Thị trấn Tân An.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Tìm hiểu những cơ cở lí luận, cơ sở thực tiễn, những thuận lợi và khó khăn của
việc rèn kĩ năng sống cho học sinh.
 Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến học sinh thiếu kĩ năng sống.
 Đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh thông qua các môn học và
hoạt động ngoài giờ lên lớp.
 Rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm sau khi áp dụng đề tài.
 5. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp đàm thoại.
 Phương pháp quan sát.
 2 Phương pháp phân tích.
 Phương pháp nghiên cứu lý luận
 Phương pháp luyện tập – thực hành.
 Phương pháp trò chơi.
 PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan.
 1.1. Cơ sở lí luận
 Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện và hội
nhập. Một trong những quan điểm chi đạo của Nghị quyết số 29/-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục và đào tạo là: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bôi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý
luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội.
 Đi học lớp một là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Từ hoạt
động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo chuyển sang một loại
hoạt động mới đó hoạt động học tập. Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này có tác
động lớn đến tâm lý của trẻ. Người giáo viên không những giúp các em hình thành và
phát triển về năng lực, phẩm chất mà còn trang bị cho các em kiến thức kỹ năng vững
vàng để vận dụng vào cuộc sống hằng ngày.
 Vì vậy, người giáo viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học nói
riêng cần thấy được vị trí quan trọng của mình từ đó quyết tâm phấn đấu nâng cao
năng lực nghề nghiệp, đáp ứng sự thay đổi to lớn này. Vấn đề giáo dục đạo đức, kĩ
năng sống là rất cần thiết để xây dựng cho học sinh có được những điều sơ đẳng của
phép ứng xử đúng đắn trong cuộc sống hằng ngày. Giáo dục đạo đức,kĩ năng sống
 3 nhằm tạo cho học sinh những chuẩn mực hành vi đạo đức tốt trong các hoạt động ứng
xử và các mối quan hệ xã hội.
 1.2. Cơ sở thực tiễn.
 Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, các em học sinh khá rụt rè, chưa quen
với cách học cũng như chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến. Khi phát biểu các em nói không
rõ ràng, trả lời trống không, không tròn câu và ít nói lời cảm ơn, xin lỗi với thày cô,
bạn bè.
 Về phía các bậc cha me các em luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chi chú
trọng đến việc con mình về nhà mà chưa đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm Toán thì lo
lắng một cách thái quá. Ngoài ra, một trở ngại nữa là có một số bố me thì quá nuông
chiều, cung phụng con cái khiến trẻ không có kĩ năng tự phục vụ bản thân. Ngược lại,
một số phụ huynh vì bận nhiều công việc nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các
hoạt động cần thiết 
 Chính vì thế tôi luôn cố gắng làm sao rèn cho các em kĩ năng sống, giúp các em
có một niềm tin, phát triển một cách toàn diện để trở thành con người năng động, sáng
tạo phù hợp với một xã hội hiện đại đang phát triển.
 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
 Qua thực tế giảng dạy ở lớp 1C - trường Tiểu học Thị trấn Tân An, bản thân
tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao. Chi một số học sinh có hành vi, thói
quen, kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có nhận xét, đánh giá về sự việc nhưng chưa
có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực. Học sinh thể hiện kĩ năng còn
đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng của bản thân. Các em còn ngại nói, ngại ,
khả năng tự học, tự tìm tòi còn hạn chế.
 Kết quả khảo sát đầu năm học như sau:
 Tổng số Thực hành thảo luận
 4 học sinh Biết cách lắng nghe, hợp tác Chưa biết cách lắng nghe
 SL % SL %
 39 14 35,9 25 64,1
 Tổng số Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể
 học sinh
 Biết cách ứng xử hài hòa, khá Ứng xử với bạn chưa hài hòa
 phù hợp.
 SL % SL %
 39 15 38,46 24 61,54
 * Nguyên nhân
 Tôi nhận thấy kĩ năng sống của học sinh còn hạn chế là do những nguyên nhân
sau:
 + Giáo viên và người lớn chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh.
 + Việc rèn kĩ năng sống qua việc tích hợp vào các môn học còn hạn chế.
 + Rèn kĩ năng sống qua các hoạt động giáo dục, vui chơi còn chưa sâu sát.
 + Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít.
 + Công tác tuyên truyền các bậc cha me thực hiện dạy các em các kĩ năng sống
cơ bản chưa nhiều.
 3. Đề xuất các giải pháp.
 Kĩ năng sống được giáo dục ở nhà và ở trường. Kĩ năng sống được giáo dục trong
các môn học chính khóa và ngoại khóa; thông qua các môn học và hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp... Giáo dục kĩ năng sống cần bắt đầu từ nhỏ, từ từng hành vi cá nhân
đơn giản nhất để hình thành tính cách, và nhân cách. Do vậy bản thân tôi đã áp dụng
một số biện pháp sau:
 5 3.1. Tạo mối quan hệ thân thiện với học sinh
 Tạo mốiquan hệ thân thiện với học sinh chính là tạo một môi trường học tập
thân thiện, thầy cô giáo như người bạn, người thân trong gia đình.
 Ngay từ đầu năm học, để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa học sinh và giáo viên
chủ nhiệm, bản thân tôi sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về mình,
động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ cũng như
mong muốn của các em. Do vậy các em thấy vui khi đến trường.
 Cô và trò lớp 1C – Trường Tiểu học Thị trấn Tân An.
 6 Không còn khoảng cách giữa cô và trò.
 Các em có thể bày tỏ mỗi ngày đến trường là một ngày vui và “Trường học
thật sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em”. Đây cũng là một điều kiện rất quan
trọng để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh. Học sinh sẽ mạnh dạn, tự tin hơn
trong học tập cũng như trong giao tiếp hàng ngày.
 3.2. Xây dựng lồng ghép các nội dung về kỹ năng sống trong giảng dạy.
 Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả, bản thân tôi đã vận dụng
vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Tiếng Việt; Đạo đức; Tự nhiên và xã
hội; An toàn giao thông .... để những giờ học sao cho các em được làm để học, được
trải nghiệm như trong cuộc sống thực.
 Trong chương trình lớp 1, ở môn Tiếng Việt có nhiều bài học có thể giáo dục kĩ
năng sống cho các em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội, như: bài tập đọc “ Hai
người bạn” được lông cụ thể qua các tình huống giao tiếp,hình thành kỹ năng thể hiện
là người bạn tốt.Các em biết được thế nào là người bạn tốt; Một số hành động thể hiện
là người bạn tốt; Từ đó các em tích cực thực hiện một số hành động thể hiện sự tôn
 7 trọng và yêu quý bạn. Bản thân tôi chi gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự
nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kĩ
năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt, người giáo viên cần phải vận dụng nhiều
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như:
thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương
pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi đáp, Thông qua các hoạt động học
tập, được phát huy trải nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng
vai, học sinh có được cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết.
 Ở môn Đạo đức, để các chuẩn mực đạo đức, pháp luật xã hội trở thành tình cảm,
niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh. Giáo viên phải sử dụng phương pháp dạy
học đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ
chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập phong phú, đa dạng như: kể
chuyện theo tranh; quan sát tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm; phân tích, xử lí tình
huống; chơi trò chơi, đóng tiểu phẩm, múa hát, đọc thơ, vẽ tranh, Sử dụng nhiều
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: học theo nhóm, theo dự án, đóng vai,
trò chơi, Thông qua những điều đó, học sinh đã được tạo cơ hội để thực hành, trải
nghiệm nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh,
các hành vi ứng xử phù hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng,
ngăn nắp, nói lời đep, chăm sóc bố me, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ với bạn 
 Ví dụ: Khi dạy môn Đạo đức bài: “ Cảm ơn và xin lỗi ” tôi giúp học sinh biết
khi nào cần nói lời cảm ơn, khi nào cần nói lời xin lỗi; Các em hiểu vì sao cần nói lời
cảm ơn, xin lỗi và biết nói lời cảm ơn, xin lỗi trong các tình huống giao tiếp hằng
ngày. Từ đó các em tôn trọng chân thành khi giao tiếp, biết quý trọng những người
biết nói lời cảm ơn, xin lỗi.
 Tôi tổ chức cho các em đóng vai, chơi trò chơi. Sau vài lời khuyến khích đầu
tiên, tôi chức cho các em đứng thành vòng tròn đóng vai, giới thiệu, bày tỏ ý kiến, 
Lúc đầu các em rất ái ngại không tự tin khi đóng vai, bày tỏ ý kiến trước lớp nhưng
 8 tôi đã kịp thời nhắc nhở các em những điều cần chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm
một môi trường hòa đông thân thiện các em thực hiện rất tốt, không còn những cái
nhìn ái ngại. Thay vào đó là những cánh tay tự tin cùng những câu nói rõ ràng, chắc
gọn, mạnh dạn hơn.
 Rèn kĩ năng sống có hiệu quả còn được bản thân tôi vận dụng khá nhiều trong
trong các môn học thông qua xử lí tình huống hay các trò chơi học tập có nội dung
gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em.
 Ví dụ: Trong môn Tự nhiên và xã hội. Ở bài: " ăn uống hằng ngày” tôi cho học
sinh thảo luận nhóm, chơi trò chơi “đi chợ” và lên thực đơn cho các bữa ăn trong một
ngày: Sáng, trưa, tối dưới sự trợ giúp của giáo viên. Sau khi học sinh nhận xét thực
đơn của nhau, học sinh sẽ khắc sâu kiến thức về một bữa ăn đầy đủ cần đảm bảo các
chất ...
 Các em làm việc tích cực, vui vẻ, tự mỗi em nói được nói lên suy nghĩ của mình
với bạn bè, với thầy cô một cách tự tin mạnh dạn. Việc rèn luyện các kĩ năng này đã
tạo ra được thói quen tốt cho bản thân mỗi em, các em tham gia một cách chủ động
tích cực vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em chia sẻ những kinh nghiệm, ý
kiến hay để giải quyết một vấn đề nào đó.
 Hiệu quả đào tạo kĩ năng sống không đo đếm được bằng những con số chính
xác nhưng được thể hiện bằng những biểu hiện cụ thể: các em có ý thức, thái độ tốt
với mọi người trong gia đình; luôn hoà đông với bạn bè; tự tin khi nói năng... Đó
chính là hiệu quả từ rèn kĩ năng sống. Việc sinh hoạt theo nhóm tạo môi trường làm
việc thân thiện, giúp các em cải thiện hành vi giao tiếp thông qua các hoạt động trao
đổi diễn ra thường xuyên. Các em trở nên thân thiện, từ đó giúp bầu không khí học
tập, lao động trở nên sôi động hơn. Tham gia sinh hoạt theo nhóm giúp các em học
sinh hưng phấn hơn trong học tập và tạo nên cách ứng xử hợp lý trong mọi tình huống.
Khi sinh hoạt nhóm phải luôn đưa ra nhiều tình huống tạo sự phát triển tư duy cho các
em. Đó cũng là cách tạo sự gần gũi giữa các em với nhau.
 9 Ngoài ra để các em có kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông và các thương
tích khác, bản thân tôi đã giáo dục các em thông qua các tiết: An toàn giao thông,
hướng dẫn các em phòng chống tai nạn giao thông và các thương tích khác bằng cách
đưa ra những tình huống cho các em xử lí.
 Chẳng hạn: “Trẻ em dưới 7 tuổi phải đi cùng với ai khi đi trên đường và khi
qua đường? Đi bộ qua đường em phải đi ở đâu?”; “Khi đi bộ em đi ở đâu? Nếu đường
không có via hè thì thế nào?”; “Em có nên chơi đùa trên đưòng phố không? Có leo
trèo qua dải phân cách và chơi gần dải phân cách không? Vì sao?”; “Khi ngôi trên xe
máy em phải như thế nào? Em hãy nêu cách đội mũ bảo hiểm? Nêu sự cần thiết phải
đội mũ bảo hiểm?”; “Các em đã nhìn thấy tai nạn trên đường chưa? Theo các em vì
sao tai nạn xảy ra?”;...
 Giáo dục cho các em tránh các tai nạn trên đường: không được chạy lao ra
đường, không được bám bên ngoài ô tô, không được thò tay, chân, đầu ra ngoài khi đi
trên tàu, xe,...Như vậy, các em có thể tự lập, xử lí được những vấn đề đơn giản khi
gặp phải.
 3.3. Hình thành thói quen tốt thông qua các tiết hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp.
 Ngay những ngày đầu tiên khi các em vào lớp học, tôi đã phát động các phong
trào: “Nói lời hay làm việc tốt” qua cách ứng xử lễ phép như biết đi thưa về trình,
chào hỏi những người lớn tuổi, biết xin lỗi khi có khuyết điểm, cảm ơn khi được tặng
quà, vui vẻ hoà nhã với bạn bè, lễ phép với thầy cô và những người lớn tuổi,... và tổng
kết vào các tiết sinh hoạt lớp. Luôn học cách lắng nghe, tìm hiểu nguyên nhân, và
dùng lời lẽ mềm mỏng bằng những tình cảm, cử chi yêu thương của mình khi yêu cầu
điều gì đó với học sinh. Tránh nói nặng lời để các em bớt đi tính hung hăng đối với
những học sinh nghịch ngợm, mắc lỗi.
 10 - Để rèn kĩ năng sống có hiệu quả bản thân còn vận dụng thông qua các hoạt
động ngoài giờ lên lớp. Đó là qua các tiết hoạt động trải nghiệm của lớp.
 Hoạt động trải nghiệm: Bày mâm ngũ quả “ Vui Tết Trung thu”
 Hoạt động trải nghiệm: Tổ chức sinh nhật
 11 Hoạt động trải nghiệm: Trang trí cây đào ngày tết.
 Với học sinh lớp 1- lớp đầu cấp Tiểu học, hoạt động trải nghiệm cũng có vai trò
to lớn trong việc phát triển năng lực cá nhân cho học sinh được hình thành và rèn
luyện kỹ năng giao tiếp, rèn luyện sự tự tin, các em đều được làm và thấy mình có thể
làm được. “Có thể nói, các sự kiện sinh hoạt tập thể như các ngày lễ, Tết là sự trải
nghiệm tổng hợp các kỹ năng. Các em được thể hiện đầy đủ năng lực của bản thân,
các kỹ năng mà các em đã trải nghiệm, hình thành và rèn luyện trong các tiết hoạt
động ngoài giờ lên lớp”.
 Ngoài các hình thức trên, tôi còn cho các em chơi các trò chơi trong sinh hoạt
hàng ngày của các em. Vì đối với học sinh bậc học tiểu học, trò chơi có một vai trò rất
quan trọng trong việc rèn kĩ năng sống cho các em. Các em lớn lên, học hành và
khám phá thông qua trò chơi. Các hành động chơi đòi hỏi các em phải suy nghĩ, giải
quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng.
 Không những thế, bản thân tôi còn khuyến khích các em cùng chia sẻ những
cảm nhận, những suy nghĩ, những quan sát của mình với cô với bạn một cách thoải
 12 mái, tự nhiên không gò bó, áp đặt. Hoặc ở những giờ sinh hoạt lớp, giờ ra chơi tôi
cùng các em tham gia những trò chơi dân gian, trò chơi giúp các em phát triển trí tuệ
(Cờ vua, Ô ăn quan), 
 Bên cạnh đó, để rèn kĩ năng tự phục vụ, biết lao động vừa sức, biết trang trí lớp
học xanh - sạch - đep, giúp các em yêu trường, yêu lớp hơn, bản thân tôi đã hướng dẫn
các em trông cây xanh và chăm sóc cây xanh trong lớp hàng ngày. Động viên, khích
lệ các ban trong Hội đông tự quản hoạt động tích cực; các em tự kiểm tra đánh giá lẫn
nhau nhằm rèn cho các em kĩ năng tự quản.
 Học sinh lớp 1C trang trí lớp học thân thiện
 3.4. Động viên, khích lệ học sinh.
 Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ năng,
ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học bản thân đưa ra kế hoạch rèn luyện cho các
em lớp mình phụ trách. Tôi cho các em ở trong ban học tập theo dõi hằng ngày, trong
tiết sinh hoạt cuối tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được một
bông hoa điểm tốt. Vì vậy, các em thi đua nhau “ nói lời hay, làm việc tốt” và cuối
tuần nào cũng có rất nhiều em được bông hoa điểm tốt.
 13 Mỗi học kì tổng kết một lần để khen thưởng những em đã đạt nhiều hoa điểm
tốt bằng những phần quà nhỏ. Các em rất vui và hãnh diện khi được tặng những bông
hoa điểm tốt và những món quà của cô giáo tặng. Vì thế các em không ngừng thi đua
cố gắng thực hiện tốt để được nhận những bông hoa mà cô giáo thưởng. Đây là một
hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhen hơn, có
đạo đức tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.
 3.5. Phối hợp với các bậc cha mẹ học sinh trong việc rèn kĩ năng sống cơ bản
cho các em khi ở nhà.
 Trước hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng
với các em và đảm bảo an toàn cho các em. Tạo điều kiện tốt nhất cho các em vui
chơi.
 Tôi trao đổi với phụ huynh học sinh cần thường xuyên khuyến khích các em
nói lên quan điểm của mình, nói chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình
về cảm giác và về những lựa chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thông
số để theo đó mà lựa chọn, cố gắng không chi trích các quyết định của các em. Việc
này sẽ hình thành kĩ năng tự kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho các em khi
tham gia các hoạt động và các buổi thảo luận tại trường sau này.
 Tôi động viên cha me giúp các em phát triển sở thích, ý thích của mình và đảm
bảo rằng người lớn có thể cung cấp thêm phương tiện để các em thực hiện ý thích đó.
 Ví dụ: Một số học sinh thích vẽ, ngoài việc cho các em học năng khiếu vẽ thì
cô giáo, cha me có thể cho các em thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chi cho các em cách
lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính các em hoặc
triển lãm tranh của các em ở góc nhỏ trong nhà, trong lớp. Hay học sinh thích văn
nghệ thì tạo điều kiện để các em được tham gia câu lạc bộ văn nghệ để các em có đủ
tự tin biểu diễn trên sân khấu trong những ngày lễ lớn của trường tổ chức.
 14 Cha me cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách sử
dụng các đô dùng ăn uống; sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt
ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đô dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội
vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhe nhàng, dễ
chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng
tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này.
 3.6. Đưa chương trình giảng dạy kỹ năng sống vào trong năm học.
 Trong năm học 2019-2020, trường tiểu học thị trấn Tân An của chúng tôi rất may
mắn vì được phối hợp với công ty POKI đưa chương trình giáo dục kỹ năng sống vào
trong chương trình giảng dạy, mỗi tuần học sinh sẽ được tham gia học một tiết. Các
giờ học được thiết kế dưới dạng giáo án điện tử, mỗi bài học là một câu chuyện hay
một tình huống được thể hiện qua Video rất hấp dẫn và cuốn hút học sinh. Nội dung
đa dạng và phong phú với rât nhiều các bài học kỹ năng sống thiết thực, phù hợp mà
tất cả học sinh đều có thể tham gia. Đưa các tiết học KNS vào các trường tiểu học
thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, kéo dài trong suốt 35 tuần học.
 Hệ thống nhân vật riêng: Poki, Chanh Leo, Đường, Ớt, Hấu Hấu.
 Bài học được ứng dụng nhiều công nghệ: Video, flash (lật tranh, đuổi hình bắt chữ,
vượt qua thử thách, giải ô chữ, ).
 Từ những câu chuyện và tính huống trong cuộc sống, chương trình đã giúp các em
hiểu, và biết cách ứng xử khi gặp các tình huống thật trong cuộc sống. Đây là những
tiết học vô cùng bổ ích giúp học sinh có những kỹ năng thực tế trong cuộc sống hàng
ngày.
 15 Học sinh hào hứng chơi trò chơi trong giờ học kỹ năng sống POKI.
 Cùng thảo luận và chọn đáp án đúng trong giờ học kỹ năng sống POKI.
4. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng.
 Kết quả đạt được:
 16 Qua khảo sát lần 2 ở lớp 1C (cuối học kì 1) Kĩ năng của các em tiến bộ rất nhiều
so với đầu năm. Cụ thể như sau:
 Tổng số Thực hành thảo luận nhóm
 học sinh
 Biết cách lắng nghe, hợp tác Chưa biết cách lắng nghe
 SL % SL %
 39 35 89,74 4 10,26
 Tổng số Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể
 học sinh
 Biết cách ứng xử hài hòa, khá Ứng xử với bạn chưa hài hòa
 phù hợp.
 SL % SL %
 39 37 94,87 2 5,13
 Qua việc thực hiện các biện pháp trên, đến giữa học kì II, tôi nhận thấy các em có
tiến bộ rõ rệt. Đa số các em đều có ý thức tốt trong việc rèn luyện các kĩ năng, được
thể hiện rõ qua: Việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp, trong nhiều nghi thức lời nói, các
em biết vận dụng những lời nói thân thiện vào thực tế, những lời chào, cảm ơn hay
xin lỗi, những yêu cầu, đề nghị lịch sự,... đã trở thành thói quen được các em vận
dụng hằng ngày. Các em thể tự tin, chủ động tham gia các hoạt đông; hăng hái phát
biểu trong tiết học và luôn được khen trong các giờ chào cờ đầu tuần. Phụ huynh học
sinh rất vui mừng phấn khởi với kết quả của lớp và luôn động viên con em phấn đấu
vươn lên đáp ứng được phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực.”
 17 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận:
 Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội,
các em không chi học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những kĩ năng cần
thiết trong cuộc sống. Qua đó, tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn, tích
cực, vui vẻ. Việc giáo dục kĩ năng sống ngay từ nhỏ sẽ rút ngắn thời gian để trang bị
cho các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống làm hành trang bước vào đời. Chính vì
vậy, các thầy cô giáo tiểu học luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Vì thế theo bản thân
tôi để làm tốt việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, mỗi thầy cô giáo cần phải:
 Xác định rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
 Nắm vững những đặc trưng về phương pháp và hình thức tổ chức dạy các kĩ năng
giao tiếp, ứng xử vào các môn học và các hoạt động khác.
 Tập trung vào việc đầu tư sọan giảng, lông ghép kĩ năng sống vào các môn học.
 Luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bày tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt các
buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp.
 Điều quan trọng là mỗi thầy cô giáo phải rèn cho mình tác phong sinh hoạt chuẩn
mực, phải hết lòng thương yêu, gần gũi với học sinh.
 Vì vậy muốn đạt được mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện, các thầy cô giáo cần
phải kiên trì, nhiệt tình, có tâm huyết với nghề, bên cạnh kiến thức về chuyên môn
nghiệp vụ, người giáo viên phải có vốn kiến thức tâm lý học, hiểu được tâm sinh lý
của trẻ. Từ đó sẽ tìm ra được những phương pháp hiệu quả để giáo dục trẻ. Việc dạy
“chữ” cần luôn song hành với việc dạy “ làm người”, và phải được xuất phát ngay từ
những tình huống, những việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống thực tế của học sinh.
Ngay trong những giờ học ngoài việc đảm bảo mục tiêu kiến thức kĩ năng của bài,
giáo viên cần chú ý đến rèn kĩ năng sống cho học sinh. Học sinh được rèn kĩ năng
sống qua nội dung kiến thức của bài, qua lĩnh hội kiến thức pháp luật, qua tham gia
 18 các hoạt động học tập trong lớp, hoạt động ngoài giờ do giáo viên tổ chức. Tích cực
đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh là giúp
học sinh có nhiều cơ hội để rèn kĩ năng sống. Học sinh được học tập sinh hoạt vui
chơi, rèn luyện trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội; vì vậy cần thực hiện tốt
gắn kết 3 môi trường để giáo dục học sinh. Phối kết hợp chặt chẽ với các ban ngành
đoàn thể để giúp đỡ, tư vấn, tạo điều kiện cho học sinh tích lũy thêm kĩ năng sống và
rèn kĩ năng sống được tốt hơn.
2. Kiến nghị
2.1 Với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
 Tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm về biện pháp rèn kĩ năng sống cho học
sinh tiểu học, để giáo viên có điều kiện trao đổi học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục.
2.2 Với Lãnh đạo trường:
 Phát huy nguôn lực Hội cha me học sinh nhằm hỗ trợ kinh phí đắc lực cho các
hoạt động ngoại khóa.
 Tạo điều kiện để giáo viên vận dụng sáng kiến kinh nghiệm vào việc giảng dạy
và giáo dục kĩ năng sống cho HS.
 Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc tích hợp các môn
học để rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp một. Rất mong được nhận sự giúp đỡ, góp ý
bổ sung của Ban giám hiệu nhà trường, các cấp quản lý giáo dục và đông nghiệp để
bản thân có được những kinh nghiệm bổ ích có thể áp dụng cho các năm học sau.
 Tôi xin chân thành cam ơn!
 19 PHẦN IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1 Hà Nhật Thăng, Tổ chức hoạt động giáo dục, Hà Nội. (1995)
 2 Hà Nhật Thăng (CB), Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ (2004), Công tác giáo
viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, NXB giáo dục.
 3 Hà Nhật Thăng Module 34. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường tiểu học.
 20

File đính kèm:

  • pdfskkn_kinh_nghiem_giao_duc_ki_nang_song_thong_qua_cac_mon_hoc.pdf