Sáng kiến kinh nghiệm Các hoat động giáo dục nâng cao chất lượng Kỹ năng sống cho học sinh Lớp 5

pdf 27 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các hoat động giáo dục nâng cao chất lượng Kỹ năng sống cho học sinh Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Các hoat động giáo dục nâng cao chất lượng Kỹ năng sống cho học sinh Lớp 5

Sáng kiến kinh nghiệm Các hoat động giáo dục nâng cao chất lượng Kỹ năng sống cho học sinh Lớp 5
 PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lí do chọn sáng kiến
 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Người có tài mà không có đức là
người vô dụng; Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đối với
lứa tuổi học sinh trong giai đoạn hiện nay thì “tài” và “đức” luôn là hai yếu tố song
hành, gắn chặt với nhau tạo nên con người hoàn thiện. Một nền giáo dục thành
công cần chăm lo phát triển cả hai mặt tài - đức cho học sinh.
 Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho các em học sinh đang
thể hiện nhiều vấn đề gây nhức nhối trong dư luận xã hội. Sự thiếu hụt trong nhận
thức đạo đức của học sinh vừa là hậu quả, vừa thể hiện vấn đề lớn: Học sinh hiện
nay không được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để ứng phó thích
đáng với các biến cố đến từ các yếu tố ngoại cảnh, sự thay đổi và phát triển đến
chóng mặt của xã hội cũng như các biến động xuất phát từ chính tâm sinh lý của
các em. Đó là các em thiếu Kỹ năng sống.
 Biểu hiện của vấn đề thiếu kỹ năng sống của học sinh tiêu học thể hiện rất
đa dạng ở nhiều vấn đề, có thể kể đến như sau:
 1. Vấn đề học sinh tiều học nói chung và lớp 5 nói riêng thiếu kỹ năng sống,
thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình, xã hội
và bản thân.
 2. Trẻ em thiếu tự tin, không biết cách ứng xử với các tình huống đơn giản
trong cuộc sống như: không biết phản ứng thế nào khi bị trêu chọc, bắt nạt; không
dám hỏi (yêu cầu) sự giúp đỡ khi gặp khó khăn 
 3. Tình trạng bạo lực học đường ngày một đáng báo động. Học sinh vi phạm
pháp luật, học sinh đánh nhau, học sinh đánh giáo viên, các clip học sinh, nữ sinh
đánh nhau xuất hiện ngày càng nhiều như một đại dịch.
 Theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang nói chung và Phòng
GD&ĐT huyện Yên Dũng nói riêng về vấn đề đưa giáo dục kỹ năng sống (KNS)
vào chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông. Cụ thể ngoài việc yêu cầu
lồng ghép chương trình KNS ở các môn học và đặc biệt là nội dung hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp, thì năm học 2019-2020, giáo dục kĩ năng sống còn được đưa
vào nhà trường thành một môn học cơ bản, được phân phối cụ thể trong chươmg
trình phân môn của môn học riêng nhờ phần mềm Kĩ năng sống “Poki” - Hệ thống
giáo dục, giáo án điện tử hỗ trợ giáo viên trong công tác giảng dạy giáo dục kĩ
năng sống với phần mềm Poki (Teachrkits) dành riêng cho giáo viên và học sinh
Tiểu học được thiết kế và giảng dạy theo chương trình 35 tuần/ năm. Chương trình
mô tả chi tiết các trò chơi, thảo luận nhóm, đóng kịch, sắm vai, thực hành... Nó đã
 1 góp phần trang bị cho học sinh vốn kĩ năng sống một cách tương đối đầy đủ, hiệu
quả và phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuối của học sinh.
 Năm học 2019-2020 là năm học thực hiện nhiều đổi mới, với chủ đề năm
học: “Tăng cường giữ vững kỉ cương nền nếp trường lớp học; tăng cường giáo dục
đạo đức lối sống, kĩ năng sống, văn hóa ứng xử cho đội ngũ nhà giáo và học sinh,
sinh viên; chuẩn bị tốt các điều kiện đổi mới giáo dục phổ thông”. Do vậy Trường
Tiểu học Thị trấn Tân An triển khai đến giáo viên, học sinh toàn trường những nội
dung công việc cần làm để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học.
 Ngôi trường Tiểu học TT Tân An trước thềm năm học mới
 Nhận thức được sự cấp thiết của vấn đề, trong đó nội dung thứ hai trong năm
nội dung chính là “Tăng cường giáo dục đạo đức lối sống, kĩ năng sống cho học
sinh” với tôi là một vấn đề vô cùng quan trọng. Học sinh sống trong xã hội phát
triển cần phải được trang bị những kỹ năng thích hợp để hòa nhập với cộng đồng,
với xu thế toàn cầu hóa. Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 5 ở tiểu học cần
phải được giáo dục rèn luyện KNS. Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với
thế hệ trẻ, bởi với các em là những chủ nhân tương lai của đất nước. Lứa tuổi học
sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ,
ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song cũng thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội,
cũng thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động, Vì vậy, việc giáo dục
KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết.
 Kết hợp các nhận định vĩ mô nêu trên với thực trạng giáo dục KNS cho học
sinh tại trường Tiểu học thị trấn Tân An, với vai trò giáo viên chủ nhiệm lớp 5 tôi
chọn và mạnh dạn nghiên cứu sáng kiến “Cac hoat đông giao duc nâng cao chât
 2 lương Kỹ năng sống cho hoc sinh lơp 5” nhằm đánh giá đúng thực trạng giáo dục
KNS cho học sinh tại trường, đồng thời tổng hợp tài liệu cơ sở về KNS và giáo dục
KNS cho học sinh với các giải pháp phù hợp và hiệu quả góp phần hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ năm học.
 2. Mục đích nghiên cứu
 Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu
giáo dục của nhà trường. Ngoài việc dạy và học chú trọng trang bị kiến thức văn
hóa cho học sinh thì việc giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh là vấn đề vô
cùng quan trọng, góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách cuả học sinh.
Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình, xây dựng cho các
em các mối quan hệ phong phú, đa dạng, một cách có mục đích, có kế hoạch có
nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự thân
thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu cầu khách quan của xã hội thành những
nhu cầu của bản thân học sinh. Thông qua việc tham gia các hoạt động mà giáo
dục KNS cần thiết cho trẻ, giúp trẻ biết làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách
ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc
sống bình thường trong một xã hội hiện đại. Thực hiện được triết lý giáo dục:
“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
 Đứng trước vấn nạn sa sút về đạo đức, lối sống hiện nay của một bộ phận
học sinh trong các nhà trường nói chung và học sinh Tiểu học nói riêng thì sáng
kiến này này nhằm mục đích tổng kết kiến thức thu được thông qua tìm hiểu tài
liệu đưa ra những kinh nghiệm, những suy nghĩ của bản thân để cùng trao đổi với
qúy đồng nghiệp đang thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở tiểu học nói chung và đang
trực tiếp giảng dạy lớp 5 nói riêng một số giải pháp tăng cường giáo dục đạo đức,
giáo dục KNS cho học sinh một cách có hiệu quả thiết thực.
 3. Đối tượng nghiên cứu
 - Học sinh lớp 5A trường Tiểu học thị trấn Tân An năm học 2019-2020.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về KNS và giáo dục KNS cho học sinh lớp 5.
 Điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục KNS ở lớp 5
trường Tiểu học thị trấn Tân An năm học 2019 - 2020. Đề xuất những biện pháp
nhằm giúp phần nâng cao hiệu quả việc giáo dục KNS ở trường Tiểu học thị trấn
Tân An.
 5. Phương pháp nghiên cứu
 - Nghiên cứu tài liệu.
 - Nghiên cứu trực tiếp thông qua các tiết học kĩ năng sống bằng phần mềm
Poki và các hoạt động ứng xử của học sinh (HS) hằng ngày.
 3 - Tổng hợp tài liệu để định hướng giải pháp.
 - Điều tra giáo dục.
 - Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 06 năm 2020.
 + Tháng 8/2019: Tìm hiểu những tài liệu (văn bản chỉ đạo, tài liệu tham
khảo ) có liên quan đến đề tài. Tìm hiểu những cơ sở thực tiễn có liên quan và
thực trạng vấn đề nghiên cứu.
 + Tháng 9/2019 đến tháng 6/2020: Nghiên cứu trực tiếp thông qua các tiết
 học kĩ năng sống bằng phần mềm Poki và các hoạt động ứng xử của HS
 hằng ngày.
 + Tháng 06/2020: Thực hiện công tác điều tra thực trạng, tổng hợp số liệu.
Đề xuất các giải pháp phù hợp với thực trạng và điều kiện thực tế nhà trường, địa
phương.
 + Tháng 06/2020: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, viết hoàn thiện đề tài.
 4 PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề liên quan
 Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 - Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS.”
 - Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói
quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
 - Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai
nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
 - Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo
lực và các tệ nạn xã hội.”
 Từ các vấn đề mang tính pháp lý nêu trên, tôi có nhận định: “Trong nhà
trường cần thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh thông qua giáo dục kỹ
năng sống (KNS)”.
 2. Thực trạng
 Việc giáo dục đạo đức, giáo dục KNS trong các trường phổ thông vẫn còn
nhiều hạn chế.
 Việc làm quen với các nội dung học về KNS như: giao tiếp, thuyết trình, làm
việc theo nhóm, khả năng lãnh đạo, tổ chức thậm chí là giải quyết các vấn đề liên
quan đến tệ nạn xã hội, vấn đề môi trường, hoả hoạn, đuối nước và nhiều vấn đề
khác trong cuộc sống... sẽ giúp các em tự tin, chủ động và biết cách xử lý mọi tình
huống trong cuộc sống.
 Học sinh lớp 5 là lứa tuổi chuyển tiếp từ lứa tuổi thiếu niên sang giai đoạn
đầu của tuổi dậy thì. Các em có nhiều biến đổi sâu sắc về tâm lý. Ở lứa tuổi này
nếu được quan tâm giáo dục tốt sẽ để lại trong quá trình phát triển nhân cách một
định hướng tốt. Dạy KNS trong nhà trường vẫn được coi là một trong những
hướng đi quan trọng để chống sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận học sinh
hiện nay và quan trọng là trang bị cho các em vốn hiểu biết về kĩ năng phòng tránh
các tệ nạn và đảm bảo an toàn cho bản thân trong thực tế cuộc sống , góp phần xây
dựng xã hội, gia đình , nhà trường hạnh phúc.
 5 Sự gia tăng những biểu hiện thiếu KNS như không thể hiện được khả năng
của bản thân; khó hòa nhập; có thái độ tiêu cực khi mâu thuẫn với bè bạn, gia đình,
thầy cô giáo; khi xử lý những tình huống phát sinh trong cuộc sống; cách học cách
sống không khoa học, hiệu quả; là những biểu hiện của hầu hết học sinh phổ
thông trong vài năm trở lại đây.
 Việc giáo dục KNS tại các trường học của những năm trước mới chỉ dừng
lại ở các hoạt động lồng ghép các hoạt động nhỏ lẻ trong công tác chủ nhiệm lớp
và một số môn học hoặc các hoạt động ngoài giờ lên lớp chứ chưa thành chương
trình hoàn thiện. Nhưng với năm học 2019-2020 được sự quan tâp của ngành
Giáo dục thì môn học Kĩ năng sống được đưa vào nhà trường bằng chương trình
và phân môn cụ thể dưới sự hỗ trợ của phần mềm kĩ năng sống Poki. Như vậy đã
góp phần rất nhiều trong quá trình trang bị hành trang kĩ năng sống cho lứa tuổi
học trò Tiểu học.
 2.1. Các khái niệm
 * Khái niệm Kỹ năng sống:
 - Hiện nay có khá nhiều khái niệm về KNS, tuỳ từng góc nhìn khác nhau
người ta có những khái niệm về KNS khác nhau.
 - Theo Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc
(UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham
gia vào cuộc sống hàng ngày - đó là những kĩ năng cơ bản như kĩ năng đọc, viết,
làm tính, giao tiếp ứng xử, giới thiệu bản thân, thuyết trình trước đám đông, làm
việc nhóm, khám phá những thay đổi của bản thân, tư duy hiệu quả 
 - Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): KNS là những kĩ năng thiết thực mà
con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính
tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng
ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả
những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
 - Theo PGS. TS Nguyễn Thanh Bình - Viện NCSP - Trường ĐHSP Hà
Nội: Kĩ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội của con người có thể ứng
phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích
cực và giao tiếp có hiệu quả.
 Mở rộng khái niệm: KNS không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi
tình huống, mà là những năng lực thích nghi cho mỗi tình huống mà cá nhân đó
sống. Những kĩ năng này bao giờ cũng gắn với một nội dung giáo dục nhất định
như: giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo, uống
nước nhớ nguồn, giáo dục sống an toàn, khoẻ mạnh 
 2.2. Phân loại kỹ năng sống
 6 Có nhiều cách phân loại KNS khác nhau.
 a. Cách phân loại thứ nhất: (Theo quan điểm phân loại xã hội học) Phân
loại KNS thành những kĩ năng chung và những kĩ năng chuyên biệt (kĩ năng trong
các lĩnh vực cụ thể).
 * Nhóm kĩ năng chung:
 - Kĩ năng nhận thức: gồm những kĩ năng cụ thể như: tư duy phê phán, giải
quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về
bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị 
 - Kĩ năng đương đầu với xúc cảm, gồm: động cơ, ý thức trách nhiệm, cam
kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự
điều chỉnh 
 - Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, gồm: kĩ năng giao tiếp, tính quyết
đoán, kĩ năng thương thuyết hay từ chối, lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm,
nhận biết sự thiện cảm của người khác 
 * Nhóm kĩ năng chuyên biệt:
 Ngoài những KNS chung như đã nêu trên, KNS còn thể hiện trong những
vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xó hội như: các vấn đề về giới tính, sức
khoẻ sinh sản; vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh sức khoẻ, vệ sinh dinh dưỡng;
ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; vấn đề sử dụng rượu, thuốc lá, ma
tuý; ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; đề phòng tai nạn thương tích; hoà bình
và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên
nhiên và môi trường; văn hoá; ngôn ngữ; công nghệ 
 b. Cách phân loại thứ hai: (Theo quan điểm phân loại tâm lí học) Theo
cách này, KNS được chia làm ba loại chính là:
 + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:
 - Kĩ năng tự nhận thức.
 - Lòng tự trọng.
 - Sự kiên quyết.
 - Đương đầu với cảm xúc.
 - Đương đầu với căng thẳng.
 + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác:
 - Quan hệ (tương tác liên nhân cách).
 - Cảm thông.
 - Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè, người khác.
 7 - Thương lượng.
 - Giao tiếp có hiệu quả.
 + Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả:
 - Tư duy phê phán.
 - Tư duy sáng tạo.
 - Ra quyết định.
 - Giải quyết vấn đề.
 Tóm lại: Dù đứng ở góc độ nào để phân loại thì chúng ta cũng cần nắm
vững ba quan điểm phân loại này trong thể thống nhất của chúng. Trong thực tế
các KNS không hoàn toàn tách rời nhau. Cuộc sống luôn đặt mỗi cá nhân trước
những tình huống, hoàn cảnh bất ngờ, nên khi cần quyết định vấn đề một cách hiệu
quả thì nhiều kĩ năng được huy động đan xen, hoà trộn nhau để vận dụng.
 2.3. Tiếp cận KNS qua 4 trụ cột học tập do UNESCO đề xuất
 * Học để biết – Kỹ năng sống liên quan đến nhận thức
 Học để biết vừa là phương tiện vừa là mục đích của cuộc sống. Là phương
tiện khi người học thực hiện việc học để hiểu thế giới xung quanh, để sống một
cuộc sống đáng được tôn trọng, để phát triển các kỹ năng nghề nghiệp và giao tiếp
với người khác. Là mục đích khi việc học xuất phát từ lòng ham thích khám phá
kiến thức, kiến thức càng rộng thì người học càng hiểu biết nhiều khía cạnh của
cuộc sống. Khi học tập có mục đích như vậy sẽ khuyến khích trí tò mò trí tuệ, mài
giũa khả năng phê phán và thúc đẩy người học phát triển các phán xét độc lập của
cá nhân. Như vậy học để biết là học thế nào để làm chủ được các công cụ học tập,
là học cách học chứ không phải là thuần thúy tiếp thu kiến thức. Học để biết là học
thế nào để phát triển sự tập trung, rèn luyện kỹ năng ghi nhớ và nâng cao khả năng
tư duy.
 Các em học với người nước ngoài để mở rộng hiểu biết
 8 * Học để làm – Kỹ năng sống liên quan đến thực tiễn
 Học để làm liên quan đến thế giới của công việc, giúp học sinh chuẩn bị cho
cuộc sống làm việc sau này. Học sinh không thể chỉ được nghe thấy hoặc nhìn thấy
mà cần được trải nghiệm, thực hành bằng các hoạt động cụ thể để tiếp thu kiến
thức mới.
 Khái niệm học để làm vượt lên trên khái niệm làm việc bằng sự khéo léo cơ
bắp mà tiếp cận đến mức độ học cách làm, cách điều khiển các kĩ thuật công nghệ
cao, cách tư duy, cách ứng xử để thích nghi với việc làm trong thời hiện đại. Như
vậy học để làm thực chất là học cách làm, là sự chuyển dịch từ các kĩ năng làm
việc cụ thể sang kĩ năng sáng tạo trong công việc. Kĩ năng làm việc có tương tác
chặt chẽ với nhóm kĩ năng xã hội khi môi trường làm việc ngày càng đòi hỏi sự
hợp tác nhóm và các mối quan hệ xã hội.
 Các em lao động để rèn luyện KNS bắt nguồn từ thực tiễn
 * Học để chung sống - KNS liên quan đến xã hội
 Học để chung sống là một trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại,
giúp con người có thái độ hòa bình, khoan dung, hiểu biết, tôn trọng lịch sử, truyền
thống và các giá trị văn hóa, tinh thần của các đối tượng khác nhau. Mục đích cuối
cùng của Học để cùng chung sống là xây dựng trong mỗi cá nhân ý thức về giá trị,
 9 hình thành thái độ ứng xử, phát triển khả năng đánh giá và đương đầu với thách
thức, tăng cường tính thích nghi, tinh thần tự chủ và sống có trách nhiệm, chấp
nhận sự khác biệt trong đa dạng, sự độc lập trong phụ thuộc, tôn trọng và bảo vệ
các di sản văn hóa, thiên nhiên, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
 Ở mức độ phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 5, Học để cùng chung sống thể
hiện ở sự hòa nhập với tập thể, kỹ năng ứng xử trong gia đình, sự đóng góp tích
cực trong tập thể trường, lớp. Học để biết phòng tránh những rủi ro và nguy hiểm
trong đời sống thường nhật, Học để nâng cao bản lĩnh và trí tuệ cho bản thân và
Học để bảo vệ cho chính bản thân mình và mọi người trong gia đình và xã hội.
 * Học để tự khẳng định: Kĩ năng sống nhận thức bản thân
 Học để tự khẳng định mình nêu lên một nguyên tắc cơ bản của giáo dục là
góp phần hoàn thiện sự phát triển của con người về trí não, thể chất, cảm xúc, thẩm
mỹ và tinh thần Các kỹ năng nhận thức bản thân sẽ đảm bảo cho mọi người có
được sự tự do trong tư duy, phán xét, cảm nhận, sáng tạo để phát triển tài năng của
mình và kiểm soát được cuộc sống của mình.
 2.4. Thế nào là giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh
 Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên
cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế
xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của HS, chuyển
từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những
hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc
sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.
 Giáo dục KNS cũng mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối mặt
với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả để
giải quyết các vấn đề đó.
 2.5. Vì sao cần phải giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh
 Chúng ta đều biết: cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để cho con người
vượt qua, những mất mát để con người biết yêu quý những gì đang có. Vì vậy, mỗi
con người cần có những kỹ năng nhất định để tồn tại và phát triển. Là những người
giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp, những người luôn đồng hành với quá trình
phát triển của HS, chúng ta càng thấy sự cần thiết giáo dục KNS cho HS.
 - Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết kính trọng ông bà,
hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an ủi
nhau khi gia đình có chuyện buồn 
 - Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS giúp HS biết cách ứng xử thân
thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an toàn
 10 giao thông; giữ vệ sinh đường làng, bảo vệ môi trường thiên nhiên Từ đó, góp
phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội,
những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên; góp phần thúc
đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu
– quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng.
 Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách cho
HS nói chung và đối với giáo dục KNS nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và
cấp thiết hơn.
 2.6. Đặc điểm chung của Trường TH thị trấn Tân An
 - Quy mô trường TH thị trấn Tân An có 21 lớp với 705 học sinh (năm học
2019 - 2020).
 - Nhận thức của một số bộ phận không nhỏ cán bộ, giáo viên trong trường,
cha mẹ học sinh, ban ngành đoàn thể của địa phương còn chưa đúng mức về vị trí
vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục rèn luyện KNS cho học sinh. Coi đó là
nhiệm vụ của riêng nhà trường. Nhận thức này là chưa đầy đủ trong bối cảnh của
giáo dục cả nước trong thời kỳ đất nước ta đang hội nhập với các nước trong khu
vực và thế giới.
 2.7. Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh tại trường
Tiểu học thị trấn Tân An
 a. Trong các tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt
dưới cờ: Qua nghiên cứu phân tích, đánh giá thì việc lồng ghép giáo dục rèn luyện
KNS cho học sinh có thực hiện tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao, chưa được xem
trọng và hiệu quả đem lại chưa được như mong muốn.
 b. Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động văn nghệ, thể dục thể
thao, các cuộc thi:
 Nhà trường có phối hợp với Đội Thiếu niên Tiển Phong tổ chức các hoạt
động ngoại khóa theo kế hoạch của Phòng GD, tuy nhiên việc tổ chức các hoạt
động này cũng còn hạn chế trong đó việc xác định mục tiêu rèn luyện KNS cho
học sinh chưa được chú trọng đúng mức và đầy đủ.
 2.8. Nhận xét đánh giá thực trạng
 Để có những nhận xét đánh giá tương đối chính xác về thực trạng vấn đề, đó
thực hiện một số khảo sát, điều tra như sau:
 - Học sinh trong khối 5 năm học 2019 - 2020 về tinh thần và thái độ học tập
cao, nhưng vẫn còn một số em học sinh lười học, hay học còn chỉ là chống đối.
Nhiều em đã tập trung vào chơi điện tử và một số trò chơi độc hại khác 
 11 - Đa số học sinh có nhận thức đúng về ý thức tự giác, tích cực trong học tập,
có ước mơ hoài bão, nhưng những định hướng nghề nghiệp trong tương lai còn rất
mơ hồ, kỹ năng diễn đạt trình bày trước đám đông cũng rất kém, số đông học sinh
ứng xử với nhau chưa thật sự hòa nhã .
 Nói chung KNS của học sinh trong lớp chưa tốt, chưa đạt được những kỹ
năng cơ bản nhất mà một học sinh lớp 5 cần phải có. Chính vì vậy tôi đã đi sâu
nghiên cứu và điều tra bằng một số phương pháp cụ thể sau:
 a. Phiếu điều tra số 1: Phiếu phỏng vân hoc sinh trong nhà trường.
 Phiếu này nhằm mục tiêu tìm hiểu, đánh giá thực trạng, tìm giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh. Phiếu không cần các thông tin cá nhân,
mong các em cung cấp những nhận định khách quan nhất để công tác này triển
khai được thành công. Xin chân thành cảm ơn.
 * Phiếu điều tra
 Dành cho học sinh lớp 5A trường Tiểu học thị trấn Tân An:
 Em hãy lựa chon chỉ môt phương an trả lời phù hơp nhât vơi bản thân
mình cho mỗi câu hỏi sau:
 Câu 1. Ở trường học hoặc khi vui chơi, em có hay bị bắt nạt không?
 a. Thường xuyên.
 b. Đôi khi.
 c. Không bao giờ.
 Câu 2. Khi bị bắt nạt phản ứng của em như thế nào?
 a. Chịu đựng.
 b. Chống lại bằng bất cứ giá nào?
 c. Cầu cứu người lớn (thầy cô, bố mẹ).
 Câu 3: Giả sử em bị thầy, cô giáo mắng oan, em sẽ:
 a. Im lặng, vì thầy giáo có quyền như vậy.
 b. Phản ứng quyết liệt, vì em không mắc lỗi gì?
 c. Đề nghị thầy, cô nghe em trình bày rõ sự việc.
 Câu 4: Em có thể thuyết trình mà không cần giấy tờ gì trước đám đông
(trong giờ chào cờ chẳng hạn) hay không?
 a. Em chịu thôi, run lắm.
 b. Tùy theo vấn đề cần trình bày.
 c. Em làm được.
 Câu 5: Em chơi game online mấy tiếng trong một tuần.
 12 a. Em không xác định được.
 b. Khoảng 5 đến 10 tiếng.
 c. Dưới 5 tiếng.
 Câu 6: Em có thể dừng việc chơi game đúng giờ đã định trước hay
không?
 a. Em có định chơi đến mấy giờ đâu.
 b. Em thích chơi chán thì thôi.
 c. Em chơi có thời gian quy định.
 Câu 8: Em có thích hoạt động ngoài giờ lên lớp không?
 a. Em không thích hoạt động ngoài giờ lên lớp.
 b. Em thấy có cũng được, không cũng được.
 c. Em rất thích tham gia.
 Câu 9: Em thích giữ vai trò gì khi tham gia thảo luận trong nhóm học tập?
 a. Gì cũng được.
 b. Thư kí nhóm.
 c. Nhóm trưởng.
 Câu 10. Em đang ở nhà một mình, một người tự xưng là nhân viên tiếp
thị đến và giới thiệu quảng cáo sản phẩm. Hành động của em là:
 a. Kệ họ, nói hết họ sẽ đi.
 b. Chọn hàng và mua hàng.
 c. Mời họ đi luôn vì em không có nhu cầu mua.
 Các em đã trả lời xong, em hoàn thành nốt việc này nhé: hãy đếm số lượng
các câu trả lời ở mỗi loại a, b, c và điền vào bảng sau:
 Loại câu trả lời a b c
 Số lượng
 Xin chân thành cảm ơn các em!
 Cách đánh giá: Nếu phiếu chọn đa số đáp án a: Học sinh thiếu hiểu biết tối
thiểu về KNS, không có hiểu biết cần thiết về các vấn đề xung quanh nhận thức về
KNS. Nếu học sinh đa số chọn phương án b có thể nói độ tin cậy của phiếu không
đảm bảo vì nó nói lên sự lưỡng lự của học sinh giữa cách chọn một phương án
thực tế như suy nghĩ của em với một cách chọn phương án mà các em thấy hay.
Khi học sinh chọn đa số phương án c, có thể nói học sinh có nền tảng cần thiết để
 13 phát triển các KNS phù hợp với lứa tuổi, học sinh ham hiểu biết, có nhận thức về
bản thân và các mối quan hệ xã hội.
 Kết quả: Điều tra 32 hoc sinh lơp 5 của trường (Thang 9 năm 2019).
 Đánh giá tổng hợp: (10 câu hỏi x 32 học sinh = 320 lượt câu trả lời)
 Loại câu trả lời a b c
 Số lượng 144 80 96
 Tỉ lệ 45% 25% 30%
 Đánh giá theo học sinh:
 Loại câu trả lời đạt đa số a b c
 Số lượng 15 8 9
 Tỉ lệ 46,8% 25,% 28,2%
 Kết quả: Điều tra 32 hoc sinh lơp 5 của trường (Thang 01 năm 2020).
 Đánh giá tổng hợp: (10 câu hỏi x 32 học sinh = 320 lượt câu trả lời)
 Loại câu trả lời a b c
 Số lượng 46 32 242
 Tỉ lệ 14,4% 10% 75,6%
 Đánh giá theo học sinh:
 Loại câu trả lời đạt đa số a b c
 Số lượng 5 3 24
 Tỉ lệ 15,6% 9,4% 75%
 Kết luận: Qua 5 tháng áp dụng các hoạt động giáo dục nâng cao chất lượng
KNS của học sinh năng lên đáng kể. Các em tự tin hơn khi giao tiếp, hòa đồng,
cảm thông hơn. Kỹ năng quản lý thời gian học tập, vui chơi, được phân bổ rõ ràng,
có hiệu quả Tôi thiết nghĩ đề tài mang tính khả thi cao.
 b. Điều tra qua kết quả hoc trong phân môn Kĩ năng sống vơi phần mềm
Poki
 14 Thông qua các tiết dạy học hằng ngày tại lớp 5A Trường Tiểu học thị trấn
Tân An tôi cảm nhập qua sự hỗ trợ của phần mềm Poki về dạy kĩ năng sống cơ bản
cho các em học sinh trong lớp tôi thấy thực sự hiệu quả. Các em cùng tìm hiểu và
khám phá những hiểu biết quan trọng và củng cố kỹ năng như: giao tiếp, tư duy
phản biện, hợp tác, lãnh đạo, làm việc nhóm, tư duy học tập, sáng tạo và đổi mới,
ứng dụng công nghệ và thông tin thông qua các hoạt động của bài học. Bên cạnh
những kiến thức thường thức trong cuộc sống hàng ngày của các em thì những kĩ
năng sống của các em được khắc sâu và in đậm trong trí óc qua các hoạt động thực
tiễn: Kĩ năng phòng tránh xâm hại, kĩ năng xử lí vật sắc nhọn, bị hóc, kĩ năng giao
tiếp chào hỏi người nước ngoài, kĩ năng rửa tay, kĩ năng giữ vệ sinh cá nhân, kĩ năng
phòng và tránh bệnh dịch, kĩ năng đi xe an toàn khi tham gia giao thông .POKI sẽ
trở thành một người bạn đồng hành giúp học sinh ghi chép, lưu trữ và thực hành các
kỹ năng đã được học ở trên lớp. Tất cả được đưa vào trong bài học một cách cụ thể
và rõ ràng. Mỗi bài học đều có hoạt động khám phá kĩ năng, hoạt động chia sẻ, hoạt
động thực hành Và các em được xem các video, clip hay và thiết thực ứng với
mỗi hoạt động đó. Từ đó giúp các em hiểu và có hành vi ứng xử thích nghi phù hợp
trong mọi tình huống mà các em có thể thường gặp sau này .
 Hoạt động thực hành rèn luyện sức khỏe và trí thông minh của HS 5A
 15 Hoạt động thực hành chia sẻ kĩ năng sống của HS 5A
 Phần mềm Poki thực sự sáng tạo, hiệu quả phù hợp và sinh động với lứa tuổi
học sinh Tiểu học. Hoạt động luôn gần gũi gắn cuộc sống thường nhật vào bài học
thông qua hoạt động học tập trả lời câu hỏi, hoạt động chia sẻ, hoạt động thực hành
và xử lí tình huống, hoặc xem clips. Các em như được hòa mình vào hoạt động và
như thấy các tình huống đó đang diễn ra hàng ngày Từ đó các em hình thành và
trang bị cho mình các kĩ năng để vững vàng trước cuộc sống.
 c. Điều tra nhận thức của giao viên, can bô tổng phu trach đôi trong nhà
trường về công tac giao duc KNS
 Phiếu điều tra số 2: PHIẾU DÀNH CHO GIÁO VIÊN
 Nội dung phiếu: (dành cho 9 giáo viên trực tiếp làm công tác chủ nhiệm
trong nhà trường
 - Thầy (cô) hãy chọn câu trả lời nào mà thầy (cô) cho là đúng nhất (từ câu
1 tới câu 10): Thầy (cô) hãy trả lời theo quan điểm riêng của thầy (cô).
 1. Theo thầy (cô), ở trường tiểu học có cần thiết phải có hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp không?
 A. Rất cần B. Cần C. Không cần
 2. Theo thầy (cô), hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có giúp cho việc
học tập trên lớp được tốt hơn không?
 A. Rất tốt B. Tốt C. Bình thường D. Không
 3. Thầy (cô) nghĩ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là:
 16 A. Rất bổ ích cho việc học tập và nâng cao kiến thức
 B. Là hoạt động vui chơi không liên quan tới việc học văn hoá
 C. Là hoạt động tốn thời gian
 D. Là hoạt động đưa vào để góp phần rèn KNS cho HS
 4. Được giao trách nhiệm tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
thầy (cô) cảm thấy:
 A. Rất hào hứng B. Bình thường C. Mệt mỏi D. Nhất định không làm
 5. Có ý kiến cho rằng: “Học tập không cần thiết phải có hoạt động giáo
dục ngoài giờ lờn lớp”, theo thầy (cô) ý kiến này là:
 A. Hoàn toàn sai B. Bình thường C. Đúng D. Sáng suốt
 6. Theo thầy (cô), có phải tất cả các môn học đều cần có hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp?
 A. Cần cho tất cả các môn
 B. Chỉ cần cho một số môn
 C. Hoàn toàn không cần cho bất cứ môn học nào
 7. Nếu có kế hoạch bỏ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thầy (cô) sẽ:
 A. Dứt khoát phản đối B. Còn tuỳ
 C. Đồng ý ngay D. Không phản đối
 8. Nếu được giảm một số tiết học trên lớp để tăng thời lượng cho hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thầy (cô) sẽ:
 A. Đồng ý ngay B. Đồng ý từ từ
 B. Sao cũng được C. Không đồng ý
 9. Thầy (cô) có tổ chức đầy đủ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
cho học sinh theo kế hoạch không?
 A. Rất đầy đủ B. Đầy đủ
 C. Không đầy đủ D. Hoàn toàn không
 10. Xin thầy (cô) hãy vui lòng cho biết suy nghĩ của thầy (cô) về vấn đề
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp của học sinh tiểu học hiện nay là như thế nào?
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.............................................................................................................................
 17 Ho và tên giao viên LỜI CẢM ƠN:
 (có thể ghi hoặc không) Tôi xin chân thành cảm ơn thầy (cô)
 đã giúp đỡ tôi hoàn thành phiếu điều tra này.
 (Hết nội dung phiếu)
 Nhận xét: Kết quả điều tra cho thấy đại đa số giáo viên kể cả có làm công
tác chủ nhiệm hay không đều có nhận thức đầy đủ và chính xác về công tác hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Phần trình bày ý kiến riêng có đa số nhận thức về
sự thiếu hụt KNS của học sinh tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
 2.9. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng
 - Về phía BGH: Đã bước đầu trú trọng việc dạy kĩ năng sống cho HS trong các
môn học và các hoạt động ngoại khóa hay ngoài giờ lên lớp. Song vẫn còn mờ nhạt.
 - Mặt khác Kĩ năng sống trong năm học 2019-2020 thực sự được trở thành một môn
học cơ bản trong phân phối chương trình của mỗi lớp thì lại không được triển khai hết 35
tiết/ năm vì đại dịch COVIT kéo dài. Học sinh nghỉ học 3 tháng mà trong khoảng thời gian
còn lại của năm học từ 18 tuần lồng ghép rút lại còn 9 tuần nên gây nhiều khó khăn và thiệt
thòi cho cả giáo viên và học sinh trong nhà trường.
 - Về phía GV: Chưa được trang bị đầy đủ về KNS và tầm quan trọng của công tác
giáo dục KNS cho học sinh tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Chưa có tài liệu hay văn bản
hướng dẫn cách thức tích hợp giáo dục KNS vào các môn học. Chưa biết cách tổ chức cho
HS các hoạt động hướng tới nhận thức và giáo dục KNS phù hợp với lứa tuổi.
 - Về phía HS: Chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức bản thân và
đối phó với các nguy cơ đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý bản thân và
sự biến đổi trong các mối quan hệ.
 - Về phía PHHS: Chưa có nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ giáo dục đạo đức học
sinh, chưa thực sự gương mẫu cho các con noi theo. Phó mặc nhiệm vụ giáo dục học sinh
giáo viên và nhà trường.
 - Về phía môi trường xã hội: Sự phát triển nhanh về kinh tế - văn hóa -
xã hội tại địa phương đồng thời đem lại nhiều vấn đề xã hội. Các tụ điểm vui
chơi giải trí (Internet; Bi-a; Karaoke ) thu hút HS rời xa học tập đồng thời
tạo ra nhiều nguy cơ tấn công vào tâm lý, sức khỏe của HS.
 Các nội dung tôi vừa trình bày đã đánh giá một số vấn đề cơ bản xung quanh nội
dung giáo dục KNS cho học sinh tại Trường TH thị trấn Tân An của năm học 2019-
2020. Về phương pháp điều tra, nội dung phiếu điều tra có thể chưa được xây dựng một
cách khoa học, kết quả điều tra có độ tin cậy chưa cao, song cũng đã giúp người điều tra
thu thập được các thông tin quan trọng góp phần đánh giá đúng thực trạng nhận thức
của học sinh nhà trường hiện nay về KNS và phát huy tác dụng cả KNS trong cuộc
 18 sống hằng ngày của các em, giúp các em giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc
sống xã hội hay các vấn đề nảy sinh từ sự biến đổi tâm sinh lý của chính các em.
 Các vấn đề chung về khái niệm KNS và kết quả phân tích thực trạng là căn cứ
để đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giáo dục KNS
trong nhà trường.
 3. Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục KNS tại
Trường TH thị trấn Tân An
 3.1. Căn cứ đề ra biện pháp
 Việc tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục KNS cho học sinh muốn đạt
hiệu quả cao cần sự quản lý chặt chẽ của BGH nhà trường đồng thời tăng cường xã
hội hóa giáo dục, phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
 a. Đối vơi nhà trường:
 Cần xác định : trách nhiệm giáo dục đạo đức, giáo dục KNS cho học sinh là
trách nhiệm của toàn thể hội đồng sư phạm bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên nhà trường chứ không phải là trách nhiệm của một cá nhân, bộ
phận nào. Vì thế, tập thể sư phạm phải nêu gương tốt cho học sinh về phẩm chất
đạo đức, tác phong mẫu mực của nhà giáo. Việc giáo dục đạo đức, giáo dục KNS
cho học sinh phải được thống nhất về nội dung, được tiến hành thường xuyên, liên
tục trong từng tiết dạy, ở mọi lúc, mọi nơi và có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các
lực lượng trong và ngoài nhà trường.
 Phải luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường sư phạm từ cơ sở vật chất
đến tinh thần, không khí học tập, sinh hoạt, làm việc, đảm bảo tính giáo dục ngày
càng cao. Xây dựng nề nếp kỷ luật, học tập quy củ, thưởng phạt nghiêm minh học
sinh thực hiện tốt hoặc học sinh còn vi phạm.
 Tuyên truyền chủ trương, quy định của ngành giáo dục, nội dung giáo dục
của nhà trường đến phụ huynh học sinh. Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, phối hợp
thường xuyên với phụ huynh, địa phương và các tổ chức xã hội để tạo được sự
đồng thuận, chung sức trong quá trình giáo dục học sinh.
 b. Đối vơi gia đình:
 Người lớn phải nêu gương tốt cho trẻ em về thái độ, hành vi, cách ứng xử
của mình đối với bản thân và đối với cộng đồng.
 Phụ huynh học sinh phải thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức
của con em mình, thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường để công tác
giáo dục học sinh ngày một tốt hơn.
 c. Đối vơi địa phương:
 19 Cần quan tâm thường xuyên đến tình hình an ninh trật tự, an toàn, mỹ quan
khu vực quanh trường học đặc biệt là xử lý cương quyết các hàng quán kinh doanh
có thể có tác động không tốt đến học sinh. Chủ động phối hợp cùng nhà trường
giáo dục học sinh nhất là những học sinh cá biệt ; giúp nhà trường giải quyết
những khó khăn ngoài thẩm quyền của nhà trường.
 3.2. Các biện pháp
 Biện pháp 1: Lập kế hoach thực hiện công tac giao duc KNS cho năm hoc.
 Cũng như các nhiệm vụ dạy học khác thì công tác giáo dục KNS cũng cần
đảm bảo thực hiện toàn vẹn một chương trình khép kín và xuyên suốt trong cả năm
học. Trong đó công tác lập kế hoạch là khâu đầu tiên của quá trình đó.
 Biện pháp 2: Xây dựng môi trường giao duc KNS.
 Xác định môi trường sư phạm là một trong những điều kiện tác động trực
tiếp, thường xuyên đến việc giáo dục đạo đức, giáo dục KNS cho học sinh nên nhà
trường rất quan tâm đến việc xây dựng trường học có một môi trường sư phạm
đảm bảo tính thẩm mỹ, tính giáo dục.
 Tập thể sư phạm nhà trường là đội ngũ cán bộ - GV - công nhân viên đa số
đạt và vượt chuẩn về chuyên môn, có lòng yêu nghề, trách nhiệm, tận tụy với học
sinh. Hầu hết các thầy, cô giáo đều nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giáo
dục đạo đức, giáo dục KNS cho học sinh, luôn quan tâm thực hiện một cách có
hiệu quả nhất.
 Tuy nhiên vẫn còn một vài GV chưa sâu sát và quan tâm triệt để tới việc
giáo dục đạo đức, giáo dục KNS cho học sinh.
 Khu vực quanh trường và trong thị trấn Tân An có nhiều điểm Internet, quán
bi - a; Karaoke. Nơi đây có thể trở thành điểm tụ tập của học sinh trước và sau giờ
học hoặc trong những giờ trốn học.
 Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là "tam giác" giáo dục quan
trọng đối với học sinh. Tầm quan trọng của mỗi lực lượng cũng như mối quan hệ
giữa chúng trong việc giáo dục học sinh ai cũng hiểu nhưng vẫn có khoảng cách
lớn giữa nói và làm.
 Bố mẹ quá bận không có thời gian để trò chuyện với con; quá nuông chiều
thỏa mãn mọi nhu cầu của con và cho rằng thế là quan tâm, chăm sóc chúng một
cách đầy đủ; quá kỳ vọng để buộc con phải đạt được những mục tiêu vượt xa khả
năng của chúng, đặc biệt là trong học tập, trong việc dạy dỗ con mình thì "trăm sự
nhờ thầy cô"... có lẽ là tình trạng phổ biến trong các gia đình hiện nay.
 Biện pháp 3: Tổ chức cac hoat đông lồng ghép giao duc văn hóa - thể duc
thể thao - giao duc KNS:
 20

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_cac_hoat_dong_giao_duc_nang_cao_chat_l.pdf