Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 môn Tiếng Việt 1– CNGD
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 môn Tiếng Việt 1– CNGD", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 môn Tiếng Việt 1– CNGD
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn sáng kiến Năm học 2019-2020 là năm toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện. Năm học thực hiện tốt chủ đề: "Giữ vững kỷ cương, nền nếp trường lớp học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hoá ứng xử cho đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt các điều kiện cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông". Là năm học tiép tục thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư số 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28/8/2014 và thông tư số 22/2016/TT- BGDDT ngày 22/9/2015 sửa đổi bổ sung một số điều quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưỏng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tích cực nâng cao năng lực cho giáo viên về kỹ thuật đánh giá thường xuyên học sinh theo thông tư 22 thông qua sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức các hoạt động trải nghiệm qua đó để hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Thực hiện dạy học gắn kết giữa kiến thức được học với vận dụng vào cuộc sống; lồng ghép, tích hợp giáo dục đạo đức, xây dựng thói quen, tăng cường các hoạt động trải nghiệm qua đó hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Tiếp tục triển khai phương pháp dạy học theo hướng giải quyết vấn đề đảm bảo linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, gắn với việc học tập cộng tác, sắp xếp chuỗi bài học theo chủ đề, phát triển năng lực cho học sinh. Thực hiện có hiệu quả dạy học Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục (TV1-CNGD) theo công văn số 157/PGD&ĐT-GDTH ngày 05/05/2016 của Phòng GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện dạy Tiếng Việt 1- CNGD. Tích cực tổ chức hội thảo chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm. Trong quá trình tổ chức dạy học các nhà trường cần chủ động thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp dạy học TV1-CNGD một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với các đối tượng học sinh để dạy-học đạt kết quả cao. Để thực hiện được tốt các nội dung trên, ngành giáo dục phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo sự chuyển biến mới về chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là đổi mới về nội dung phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức kỹ năng của người học ở tất cả các môn học. 2 Môn Tiếng Việt là một môn học không thể thiếu trong dạy và học ở Tiểu học. Vậy môn Tiếng Việt cũng là một môn học được đổi mới về nội dung và phương pháp. Trong môn học đó, kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc cũng có một vị trí quan trọng không kém. Kỹ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khóa để vận dụng đọc được chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em sẽ có dễ dàng nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo... từ đó có điều kiện học tốt các môn học khác có trong chương trình. Ở Tiểu học, lớp Một là lớp đầu cấp. Khi học ở trường mầm non các em mới dừng lại ở các hoạt động vui chơi, múa hát, sinh hoạt theo chủ điểm, chủ đề và bước đầu chỉ là làm quen với chữ cái. Vào lớp 1, các em học sinh mới được bắt đầu làm quen với các kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Vậy kỹ năng đọc là một trong 4 kỹ năng rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh, các yêu cầu trong các môn học. Mặt khác ở lớp Một nếu các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn. Các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn, kết quả học tập của các em sẽ đạt được cao hơn. Chính vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài “Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 môn Tiếng Việt 1 – CNGD” ở năm học này. 2. Mục đích nghiên cứu Qua sáng kiến nghiên cứu nhằm trang bị thêm vốn hiểu biết của bản thân về phương pháp dạy học tích cực trong môn Tiếng Việt 1- CNGD. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động học tập nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 1. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Học sinh lớp 1D, trường Tiểu học thị trấn Tân An. 3 - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2019 đến tháng 6/2020. 4. Nhiệm vụ của Sáng kiến: Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiết Tiếng Việt 1-CNGD nói chung; rèn kỹ năng đọc cho HS ở môn Tiếng Việt nói riêng. Trang bị thêm vốn hiểu biết của bản thân về phương pháp dạy học tích cực trong môn Tiếng Việt 1-CNGD. Tìm biện pháp nâng cao kĩ năng đọc tốt cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt 1 cho học sinh lớp 1. Đóng góp kinh nghiệm giảng dạy của mình với bạn bè đồng nghiệp để cùng nhau nâng cao tay nghề, tích luỹ chuyên môn. Vận dụng những hiểu biết của bản thân để các tiết dạy Tiếng Việt lớp 1- CNGD đạt kết quả cao. 5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: - Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học trực tiếp một số năm ở khối lớp I - Trường Tiểu học thị trấn Tân An. - Đánh giá quá trình dạy Tiếng Việt 1-CNGD từ những năm trước và năm gần đây. - Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh . - Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu. 4 PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan a. Cơ sở lí luận Chương trình Tiểu học đang thực hiện đổi mới đồng bộ cả về mục tiêu giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học; Đổi mới cách thức đánh giá học tập của học sinh (Theo thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học). Từ việc đổi mới các môn học của chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt cũng được đổi mới. Đặc trưng của môn Tiếng Việt là tập trung vào sự hình thành và phát triển kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết góp phần vào quá trình hình thành các giá trị mới như: Năng lực tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức và thực hành vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân. Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đó được thể hiện qua 4 kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết. Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và là một hoạt động (Việc 3 ở sách thiết kế tập 1và tập 2; việc 2 ở sách thiết kế tập 3) ở các tiết dạy môn Tiếng Việt 1- CDG. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho kĩ năng “đọc” nói chung và “đọc đúng” nói riêng. Đọc tốt sẽ là công cụ, là chìa khoá, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức, giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của nghệ thuật ngôn từ. Đặc biệt là đọc đúng giúp các em học được cách nói, cách viết một cách chính xác, trong sáng có nghệ thuật, phát triển cho học sinh vốn từ ngữ Tiếng Việt phong phú. Từ đó, các em sẽ học tốt các môn học khác. Bởi đọc đúng sẽ xác định chính xác nội dung một vấn đề nào đó. Hiểu đúng yêu cầu và sẽ làm Toán đúng, viết đúng và nói đúng. Qua tìm hiểu tôi thấy những bài tập đọc trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1-CNGD được tác giả lựa chọn đưa vào chương trình là những câu chuyện gần gũi, những bài văn, bài thơ hay. Chính vì thế mà khi được học đọc 5 các em có vốn văn học phong phú. Cũng như các môn học khác ở cấp học, muốn rèn đọc tốt cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học. Phải lấy học sinh làm trung tâm, học sinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình học tập, thầy thiết kế - trò thi công. Tự tìm tòi để hiểu nội dung, phát hiện kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người thầy. Với những yêu cầu quan trọng như vậy thì người thầy phải là người tổ chức linh hoạt chuẩn bị được nhiều tình huống phong phú cho học sinh. Học sinh đọc tốt sẽ nhằm cung cấp, bồi dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu người lao động, yêu người thân trong gia đình; hiểu và yêu thêm lịch sử Việt Nam. b. Cơ sở thực tiễn: Năm học 2019 - 2020 là năm học mà trường Tiểu học thị trấn Tân An tiếp tục thực hiện giảng dạy Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ giáo dục. Từ năm học 2015- 2016, giáo viên khối 1 trường tiểu học thị trấn Tân An chúng tôi đã được Tổ chuyên môn của Phòng giáo dục tập huấn về cách dạy môn Tiếng Việt 1 theo công nghệ giáo dục. Năm năm học đã qua, tôi vẫn tiếp tục được Ban giám hiệu nhà trường tiểu học thị trấn Tân An phân công thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của khối l và tiếp tục thực hiện dạy TV1 theo công nghệ. Năm học 2019-2020 này tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1D có sĩ số là 40 học sinh. Qua thời gian thực dạy tôi nhận thấy những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi: - Học sinh có đầy đủ SGK và đồ dùng học tập. - Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết nghe lời. - Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình. - Hầu hết các em đều biết các chữ cái khi vào đầu lớp 1. - Đa số các em tiếp thu được nội dung theo yêu cầu; một số em tiếp thu khá nhanh. * Khó khăn: 6 - Cùng độ tuổi nhưng nhận thức của học sinh khác nhau không có sự đồng đều, nhiều em nhận thức rất chậm.(Học mãi không nhớ bảng chữ cái, thuộc bảng âm vần). - Chương trình dạy Tiếng Việt 1 theo công nghệ có nhiều điểm mới nên giáo viên phải thường xuyên nắm chắc phương pháp còn mất nhiều thời gian nghiên cứu, đọc tài liệu. - Cách phát âm của một số chữ cái không giống với chương trình cũ (VD: âm /k/ theo chương trình cũ đọc là “ca” nhưng theo chương trình mới lại đọc là “cờ”, hay âm /gi/ theo chương trình cũ đọc “di” nhưng theo chương trình mới đọc là “dờ”). - Học sinh một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao tiếp hàng ngày sao cho đúng ngữ pháp. - Một số phụ huynh học sinh còn mải lo làm kinh tế giao toàn bộ việc học của con em mình phó mặc cho nhà trường; ít có thời gian cùng học giúp đỡ các con em trong việc học ở nhà. Vả lại chương trình Tiếng Việt 1- CNGD là chương trình khó nên phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn khi con cái có thắc mắc muốn cha mẹ giải đáp thì phụ huynh còn lúng túng, khó giải đáp. 2. Thực trạng của việc dạy và học Tiếng Việt 1 - CGD ở trường Tiểu học thi trấn Tân An. Suốt trong thời gian qua, là một giáo viên đang thực dạy trực tiếp cho HS lớp 1 tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu và thấy được một số thực trạng việc dạy và học Tiếng Việt 1 - CGD ở trường Tiểu học thị trấn Tân An như sau: 2.1. Về phía giáo viên. * Ưu điểm: - Đội ngũ giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 1 đều là những giáo viên có tay nghề vững vàng; ý thức cao trong việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề và luôn trăn trở để tìm phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 – CNGD và truyền đạt cho HS đạt được kết quả tốt nhất. 7 - Giáo viên thực hiện dạy đúng phương pháp, sách thiết kế, có ý thức vận dụng linh hoạt theo hướng đổi mới phương pháp dạy học. - Giáo viên có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình; luôn thực hiện việc đánh giá nhận xét học sinh một cách nghiêm túc, khách quan, tỉ mỉ. - Giáo viên nắm chắc tiến trình tiết dạy, đi đúng mục tiêu của bài yêu cầu. * Tồn tại: - Một số giáo viên còn lẫn phương pháp dạy của chương trình dạy Tiếng Việt cũ với phương pháp dạy của chương trình Tiếng Việt 1 – CNGD. - Ba quyển sách thiết kế phục vụ cho giáo viên là ba quy trình khác nhau vì vậy rất mất thời gian cho giáo viên nghiên cứu đi đúng tiến trình. - Một số đồng chí giáo viên diễn đạt còn lúng túng, chưa có sự sáng tạo, linh hoạt trong bài dạy. 2.2. Về phía học sinh: - Với đặc diểm học sinh mới đón từ trường Mầm non lên còn quá nhỏ, vốn từ của các em còn quá ít ỏi nên việc hiểu nghĩa của từ còn hạn chế. Đầu năm mới bỡ ngỡ làm quen với trường mới, thầy cô mới; cách học mới nên kĩ năng nói và viết chưa được tốt. - Vẫn có em đọc còn ngọng (l/n, thanh hỏi, thanh ngã...) - Tìm hiểu về nghĩa của từ còn hay lẫn lộn vv... - Một số em yếu khi học sang phần nguyên âm đôi hoặc âm đệm (vì mỗi kiểu vần lại có cách đánh vần riêng) còn nắm chưa chắc. 2.3. Về chương trình Tiếng Việt 1 – CNGD Qua thời gian thực dạy, tôi nhận thấy: a. Thuận lợi: Dạy học theo chương trình Tiếng việt Công nghệ giáo dục, giáo viên phát huy được tính tích cực của học sinh. Giúp giáo viên nắm vững kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, tiến trình giờ dạy nhẹ nhàng, dễ thực hiện. Giờ học diễn ra sôi nỗi, hào hứng; học sinh nắm được cách phân tích cấu trúc ngữ âm, xác định được rõ ràng các âm trong một tiếng như: âm đầu, âm 8 đệm, âm chính, âm cuối Giáo viên không phải cầm tay giúp học sinh tập viết mà các em tự tư duy bài giảng dưới hình thức nghe, hiểu và viết lại. Có sẵn thiết kế giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian để quan tâm đến học sinh nhiều hơn. Có thời gian để nghiên cứu tài liệu, nắm qui trình dạy, cách tổ chức thực hiện lên lớp với học sinh. Tài liệu sách thiết kế chi tiết cho các dạng bài, các mẫu của từng tiết dạy. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên ít, đơn giản, nhẹ nhàng, đa số các thao tác đều có sẵn trong thiết kế bài giảng. Phương pháp mới giúp học sinh nắm chắc kiến thức ngữ âm mà không đặt nặng nề về nghĩa của từ. Học sinh làm theo hướng dẫn, những ký hiệu và hiệu lệnh của giáo viên. Thay vì đánh vần, học sinh còn được phân tích âm, vần qua thao tác tay và các hoạt động phụ trợ khác, tạo sự hứng thú giúp học sinh làm chủ kiến thức. Từ đó chất lượng môn học Tiếng Việt của học sinh đã được nâng lên nhiều so với trước. Một tiết học Tiếng Việt 1- CNGD của lớp 1D b. Khó khăn: Đối với học sinh lớp 1 các em có vốn từ còn ít, kỹ năng giao tiếp chưa tốt, có em chưa tiếp thu được kiến thức kịp bằng các bạn trong các hoạt động học tập, cũng như nhận và hoàn thành nhiệm vụ. 9 Học sinh còn chưa nắm vững luật chính tả từ đó viết chính tả còn sai lỗi, phát âm sai các âm, vần, tiếng do thói quen phát âm của địa phương. Lượng kiến thức cần đạt trong chương trình tương đối nặng so với trình độ nhân thức của học sinh lớp 1. Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa nhớ mặt chữ cái nhưng ở việc 4 đã được nghe để viết chính tả. Trong quá trình học, các em còn phải phân biệt được tiếng có âm đầu; tiếng có âm chính; tiếng có âm đệm, âm cuối. Trước đây dạy ở phương pháp cũ, học hết 8 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép âm thành vần, tiếng. Nay chỉ hết 6 tuần, học sinh đã phải đọc những bài dài tới 50 tiếng, hay có những bài học liền bốn vần hay có khi học sáu vần một ngày đối với HS lớp Một là quá nhiều. Còn có những bài đọc chưa được gần gũi với học sinh nên học sinh khó nhớ. 2.4. Những lỗi thường thấy của học sinh lớp 1 khi học đọc ở phân môn tiếng Việt. * Phát âm sai về phụ âm đầu: Đây là lỗi mà nhiều em mắc phải. Các âm đầu dễ lẫn lộn như n/l; âm d/gi/r hay cặp âm ch/tr... nguyên nhân này có thể do ảnh hưởng của tiếng địa phương, do nói theo bạn nhiều thành quen (bạn phát âm sai bắt chước theo vì chưa phân biệt được đúng - sai); Do bản thân các em chưa kiên trì luyện tập; Do bộ phận phát âm chưa hoàn chỉnh vì vậy dẫn đến phát âm không chuẩn từ đó làm cho người nghe hiểu sai ý muốn nói. VD: Khi phát âm từ “cái lá” ý muốn nói đến cái lá cây nhưng lại phát âm là “cái ná” làm cho người nghe hiểu sang là cái ná thun súng tự tạo bằng cao su, dẫn đến sai ý muốn nói. * Phát âm sai về dấu thanh. Lỗi về dấu thanh là lỗi HS cũng hay bị mắc nhưng không nhiều bằng lỗi về phụ âm đầu, tuy nhiên lỗi về dấu thanh rất khó sửa, cần nhiều thời gian và kiên trì luyện tập. VD: “củ sả” ý muốn nói đến củ của cây sả, một loại cây dùng để làm gia vị hay làm thuốc nhưng HS phát âm thành “cụ sạ” dẫn đến người nghe không hiểu được nghĩa muốn nói. * Phát âm sai về vần. Lỗi này thường mắc ở một số em do thói quen sử dụng từ ngữ của vùng miền (rượu thì đọc là riệu; gãy thì đọc là gẫy...) 10 VD: “bạn Lưu” ý muốn nói đến bạn tên Lưu nhưng HS lại phát âm lại đọc là “bạn Liu” làm cho người nghe hiểu lầm sang tên “Lưu” là “Liu”. Hay phát âm “chai rượu’ thành “chai riệu”; “ghế gãy” thành “ghế gẫy”, ... 2.5. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đọc sai của học sinh. Từ việc điều tra nghiên cứu tìm hiểu, tôi thấy học sinh đọc sai chủ yếu ở các nguyên nhân sau: Thứ nhất: Các em chưa hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ về nghĩa của tiếng, của từ, của câu. Thứ hai: Chưa ý thức được phải phát âm chuẩn thì người nghe mới hiểu hết nghĩa mà mình muốn diễn đạt. Thứ ba: Do bản thân các em đọc sai lại chưa kiên trì, tự giác tập luyện để sửa sai. 3. Đề xuất các giải pháp: Từ việc tìm hiểu ra nguyên nhân dẫn đến đọc sai của học sinh lớp ở trên, theo tôi để khắc phục những hạn chế trên cần chú ý đến một số giải pháp sau: * Tạo môi trường giao tiếp cho các em thông qua các hoạt động học tập phát triển vốn từ. Các em học sinh từ môi trường mầm non mới bước vào lớp 1, các em còn rất rụt rè, chưa mạnh dạn. Thông qua việc học 2 tuần 0 giúp các em làm quen với thầy (cô), cũng như các bạn trong lớp. Từ đó phát triển vốn từ và khả năng giao tiếp một cách tự nhiên, giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp cũng như khi nhận và hoàn thành nhiệm vụ. Ngay ở tuần 0 giáo viên cần giúp cho các em làm quen với các đồ dùng học tập, tư thế viết bảng con, cách cầm viết, xóa bảng, sách giáo khoa, bút chì Tuy đó là những điều đơn giản, nhưng với các em mới vào học lớp 1 là còn bỡ ngỡ. Khi các em nắm được những điều đó, thì ở các tuần tiếp theo khi giáo viên giao việc học sinh sẽ thực hiện tốt. * Hướng dẫn học sinh phát âm, ghi nhớ vần trong Tiếng Việt lớp 1- CNGD a. Hướng dẫn cách phát âm. Hướng dẫn cách phát âm là phương pháp quan trọng hàng đầu, đòi hỏi người giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt. Khi hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh 11 dễ hiểu và có thể tự mình phát âm đúng. Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn, giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi – răng – lưỡi, đường dẫn hơi, điểm thoát hơi ) Ví dụ: Khi học sinh sai lẫn âm l/n giáo viên cần hướng dẫn: + Âm l: lưỡi uốn cong, bật đầu lưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát. + Âm n: Lưỡi ép sát lợi trên, cho hơi thoát ra đường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặt lưỡi, luồng hơi có thể kéo dài. Với những học sinh vẫn chưa phát âm được, giáo viên có thể yêu cầu các em dùng hai ngón tay, bóp mũi lại để đọc âm l (đối với âm n, khi bóp mũi lại sẽ không thể đọc được). Ví dụ: HS sai lẫn ở những âm đầu vần và cuối vần “ac” đọc thành “at”:, giáo viên cần hướng dẫn: - ac: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi. - at: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi. Ví dụ: HS sai lẫn dấu thanh (gặp ở những học sinh có hệ thống bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh) giáo viên cần hướng dẫn: + Những tiếng có thanh hỏi/thanh nặng: đi ngủ - đi ngụ, cử tạ - cự tạ, củ sả - cụ sạ ) + Tiếng có thanh hỏi: giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phát âm trầm, hơi luyến giọng, lên cao, kéo dài hơi. Có thể kèm theo động tác ngửa cổ hướng mắt lên trên. + Tiếng có thanh nặng: phát âm thấp giọng và nặng, dứt khoát (không kéo dài). Khi phát âm có thể làm động tác gật đầu. + Những tiếng có thanh sắc – thanh ngã (em bé ngã - em bé ngá, lọ mỡ - lọ mớ, ghế gỗ - ghế gố ) + Những tiếng có thanh ngã đọc nhấn mạnh, hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng. + Những tiếng có thanh sắc: Đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngăn, đọc nhanh, không kéo dài. 12 Bằng cách hướng dẫn như một vài ví dụ nêu trên học sinh có thể dễ dàng phát âm và đạt hiệu quả cao. Học sinh luyện cách phát âm theo hướng dẫn của Giáo viên. b. Hướng dẫn cách ghi nhớ về âm. Giáo viên phải phát âm chuẩn để học sinh phát âm theo. Giáo viên chỉ phát âm một lần, nhưng cần rõ ràng và chính xác. Nhưng đối với các em còn chậm, giáo viên cần quan tâm chú trọng đến các em nhiều hơn. Nếu các em phát âm còn sai âm mới, giáo viên cần cho em đó phát âm đi phát âm lại 2-3 lần, để giúp các em sửa chữa và nắm được và nắm chắc các âm đó. Cần nắm được đó là nguyên âm hay phụ âm (thông qua việc phát âm: Phát âm âm đó luồng hơi đi ra tự do đó là nguyên âm; phát âm âm đó luồng hơi đi ra bị cản lại đó là phụ âm) để đưa vào mô hình phân tích tiếng cho đúng. Tránh nhầm lẫn khi đưa vào mô hình (phần đầu là phụ âm, phần vần bao giờ cũng là nguyên âm). Ví dụ: Cho Học sinh đưa vào mô hình tiếng /pha/. ph a Phụ âm Nguyên âm 13 c. Hướng dẫn ghi nhớ về vần. - Để học tốt phần vần của Tiếng việt lớp 1- CGD, trước hết các em phải nắm chắc các âm đã học. Ví dụ: Học vần /an/ biết gồm có 2 âm, âm a đứng trước, âm n đứng sau. - Phải nắm chắc việc phân tích tiếng, vị trí các âm trong mô hình. Ví dụ: /loa/: /lờ/- /oa/ -/loa/. Âm đầu/l/, âm đệm /o/, âm chính /a/. - Nắm chắc các mẫu vần đã học để khi đưa tiếng vào mô hình không bị sai. Các em đôi khi còn sai khi đưa tiếng đã học vào mô hình.Vì vậy, giáo viên cần giúp các em nắm chắc các mẫu vần, nếu sai giao viên kịp thời giúp học sinh sửa lỗi. - 5 mẫu vần trong dạy Tiếng Việt 1 – CGD: Mẫu 1: Vần chỉ có âm chính . Mẫu 2: Vần có âm đệm và âm chính. Mẫu 3: Vần có âm chính và âm cuối. Mẫu 4: Vần có đủ âm đệm, âm chính và âm cuối. Mẫu 5: Vần có nguyên âm đôi. d. Nắm chắc cơ chế đánh vần. Các em còn nhầm lẫn với cách đánh vần ở phương pháp cũ (do phụ huynh tự dạy ở nhà). Vì vậy giáo viên cần giúp các em nắm chắc cơ chế đánh vần với các bước: Bước 1: Tạm thời tách thanh ra để lại tiếng thanh ngang. Bước 2: Đọc tiếng thanh ngang. Bước 3: Trả lại thanh. Đối với các học sinh tiếp thu chậm, nếu các em không đọc được thì cần chia nhỏ ra nữa. Ví dụ: Tiếng /bà/ các em không đọc được, thì cho các em đánh vần ra: /bà/-/ba/-/huyền/-/bà/, nếu không đọc được nữa, cho học sinh phân tích tiếng /ba/: /bờ/-/a/-/ba/, không đọc được nữa thì gợi mở cho các em nhớ lại các nét cơ bản cấu tạo nên /b/ và /a/. Nắm được cơ chế đó các em sẽ đọc được dù bất kể tiếng nào. 14 Học sinh đánh vần phân tích tiếng theo cơ chế phân đôi * Giáo viên đọc mẫu phải chuẩn. Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các em luôn coi thầy, cô giáo của mình là thần tượng, là chuẩn mực. Đặc điểm tâm lí của học sinh ở lứa tuổi này là hay bắt chước, hay làm theo. Các em thích mình giống như thầy cô và người lớn. Các em thường “bắt chước” cô từ cách ăn mặc, đi đứng, cho đến lời nói, cử chỉ, chữ viết Học sinh lớp 1 hằng ngày đến lớp chủ yếu được nghe giọng của giáo viên. Vì vậy giáo viên cố gắng cho học sinh nghe đúng, nghe hay thì việc học sinh đọc sai, viết sai từng bước được khắc phục. Muốn học sinh phát âm tốt thì giáo viên phải phát âm chuẩn xác. Giáo viên thực hiện việc đọc mẫu trong bài học của giờ học Tiếng Việt 15 Tuy vậy, nếu sử dụng phương pháp làm mẫu không khéo léo, sẽ dẫn đến tình trạng “lạm dụng”, tiết học sẽ trở nên nhàm chán và không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Vì thế, giáo viên chỉ nên sử dụng phương pháp này khi thấy thật cần thiết, đó là khi các em học sinh dù qua hướng dẫn, không thể tự mình phát âm đúng. Khi vận dụng phương pháp đọc mẫu cho học sinh, giáo viên cần rèn luyện cho các em biết kết hợp cả kĩ năng nghe và nhìn (nghe tiếng phát âm và quan sát môi, miệng, lưỡi của cô). Như thế học sinh sẽ phát âm đúng và dễ dàng hơn. Người giáo viên khi đọc mẫu, không đơn giản chỉ là phát ra âm tiết mà cần biết phối hợp với thuật “hình môi” nhằm hướng dẫn các em phát âm chuẩn xác hơn. Học sinh nếu chỉ nghe mà không nhìn miệng cô đọc thì việc phát âm sẽ không đạt hiệu quả cao, vì trong môn Tiếng Việt 1- CGD việc quan sát môi cô khi phát âm âm mới là rất quan trọng. * Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau. Chỉ ra lỗi sai, điều chỉnh cho nhau trong nhóm tương tác 16 Cùng nhau thảo luận, chia sẻ Hoạt động dạy – học luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác: giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, không phát huy được tích cực, chủ động của học sinh, đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên; người giáo viên cũng không thể hiện rõ được vai trò là người chỉ dẫn để giúp các em tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức mà trong môn Tiếng Việt 1 – CNGD thì phương trâm là “thầy thiết kế - trò thi công”. Trong quá trình rèn kĩ năng phát âm cho học sinh, giáo viên luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh với học sinh. Giáo viên cần chú trọng việc rèn cho các em có kĩ năng nghe – nhận xét – sửa sai giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt. Qua quá trình nghe để nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh tự điều chỉnh, sửa sai cho mình. Đồng thời còn rèn luyện cho các em tác phong mạnh dạn, tự tin trong góp ý, trao đổi, trình bày ý kiến, góp phần hình thành nhân cách. Thực hiện thường xuyên như thế sẽ tạo được bầu không khí 17 học tập nhẹ nhàng, thân thiện, đảm bảo được mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. * Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh Học sinh chú ý theo dõi hướng dẫn của giáo viên để đọc đúng Rèn cho học sinh có tính kiên trì là nhiệm vụ quan trọng. Bản thân người giáo viên cũng phải rất kiên trì để hình thành tính cách ấy cho học sinh. Khi có được lòng kiên trì, học sinh sẽ vượt qua những khó khăn để đạt tới cái đích cao nhất. Trong dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng, phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, giáo viên cần kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh 18 phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen “Em đã đọc tốt hơn rồi, em cố gắng thêm chút nữa nhé”, “em đã đọc được rồi đấy, em cố gắng lên nhé” được động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ làm được từ đó học sinh sẽ quyêt tâm hơn. Trong số những học sinh phát âm sai, có một phần nhỏ học sinh do lười biếng, không muốn rèn luyện mình nên chỉ phát âm một cách nhanh chóng, đại khái cho xong, dần dần thành quen nên phát âm không chuẩn xác. Với những đối tượng này, giáo viên phải thật nghiêm khắc, khen – chê đúng mực để các em thấy rằng mình có khả năng học tập rất tốt, mình cần phải thể hiện hết khả năng của mình. * Quan tâm rèn luyện cho học sinh ở mọi nơi, mọi lúc. Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức phát huy tính tích cực. Để cho các em ghi nhớ và khắc sâu các kiến thức đã học, người giáo viên không chỉ nắm vững quy trình 4 việc trong sách thiết kế, mà còn phải làm cho lớp học sôi nổi, học sinh thoải mái trong học tập.Chính vì điều đó, giáo viên phải tạo ra những trò chơi học tập để làm cho không khí sôi nổi, tích cực, đồng thời củng cố kĩ năng. Ví dụ: Khi dạy âm/th/ở tuần 7, giáo viên có thể sử dụng trò chơi “ Bắn tên” hoặc “chèo thuyền” để cho học sinh tìm tiếng mới, học sinh suy nghĩ tự ghép âm đầu /th/ với các nguyên âm đã học ; thêm thanh để tạo ra những tiếng mới . Ví dụ: tha, the, thê, tho, thô, thơ, .... thỏ, thế, thì, .... từ đó giúp các em hứng thú học tập hơn. Phải luôn quan tâm chú ý đến những học sinh nhận thức chậm vì các em chưa mạnh dạn, luôn tạo điều kiện để lần lượt các em được điều khiển trò chơi cho các bạn. Ngoài ra, để giúp học sinh phát âm chuẩn, giáo viên không chỉ hướng dẫn, sửa sai cho các em trong giờ học môn Tiếng việt mà cần luôn theo dõi, uốn nắn cho các em cả trong các tiết học khác, trong giờ chơi, trong hoạt động tập thể Bởi vì những lúc vui chơi là lúc các em sử dụng lời nói một cách tự nhiên nhất. Người giáo viên cần chú ý quan sát để phát hiện những lỗi phát âm của các em và kịp thời sửa chữa, đồng thời tạo cho học sinh thói quen phát âm chuẩn dù ở bất cứ nơi đâu. * Kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát âm cho học sinh. Giáo viên có thể cùng bàn bạc và thảo luận với phụ huynh nêu ra cách đọc một số chữ khó để phụ huynh nắm bắt được, từ đó tạo điều kiện rèn luyện phát âm cho các em khi ở nhà. Với một số em cá biệt về phát âm, giáo viên có thể gặp trực tiếp phụ huynh trao đổi và động viên họ nên chọn mua những quyển truyện tranh 19 trong đó có lời đối thoại nhiều phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn và dành thời gian đọc, kể cho các em nghe, dạy em kể lại chuyện. Ngoài ra cần nhắc nhở phụ huynh thường xuyên chú ý tới lời nói, cách phát âm của mọi người trong gia đình, giải thích cho phụ huynh hiểu chính lời nói của người thân trong gia đình là môi trường giáo dục cho các em khi ở nhà. Như vậy việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường đều tạo môi trường phát âm chuẩn mực giúp các em ngấm dần một cách tự nhiên khi đọc phát âm đúng. Một số trường hợp, học sinh phát âm sai không phải do hệ thống phát âm của các em chưa hoàn chỉnh, cũng không phải do các em chưa hiểu cách phát âm mà là do thói quen sử dụng từ ngữ địa phương mọi người xung quanh và chính bố mẹ các em thường dùng (Ví dụ: chai rượu – chai riệu). Đối với những trường hợp này, trong mỗi bài dạy, khi có từ ngữ hoặc chủ đề liên quan, giáo viên cần quan tâm tới các em thường nói sai, giải thích cho các em hiểu đúng nghĩa của từ cũng như cách dùng từ đúng, từ đó giúp các em tránh phát âm sai theo cách nói của địa phương. Thảo luận hướng dẫn phụ huynh cách đọc để họ dạy con * Biện pháp tuyên dương, khuyến khích học sinh. Trong năm học 2019 – 2020 tôi đã áp dụng các biện pháp nêu ở trên để áp dụng rèn đọc cho các em đồng thời cũng thường xuyên kiểm tra đánh giá kết hợp với biện pháp tuyên dương, khuyến khích các em, từ đó các em rất hứng thú, vui vẻ, tạo được không khí thoải mái, là động lực cho các em tiếp tục rèn luyện, sửa chữa các lỗi mà các em mắc phải. Khi các em có tiến bộ, dù nhỏ nhất tôi cũng dùng những lời động viện để khuyến khích các em (VD: “em đã phát âm chuẩn hơn hôm qua rồi, cố lên em nhé”, “em đã có tiến bộ nhiều hơn rồi, cô khen em”...), cũng có thể bằng hình thức nhận xét vào vở của các em khi chấm vở chính tả, với em hay viết sai lỗi l/n mà bây giờ đã viết sai ít hơn tôi cũng vẫn khen em đó (VD: 20 “em viết bài có tiến bộ, đã ít sai lỗi l/n hơn rồi, em cần phát huy” ....). Không chỉ khen những em đã biết sửa lỗi mà tôi còn khen cả những em đã giúp bạn phát âm đúng, để từ đó các em có động lực giúp bạn hơn, hừng thú với công việc đó hơn. Học sinh Nguyễn Hải Long đọc diễn cảm bài đọc 4.Kết quả nghiên cứu và ứng dụng Sau một thời gian tìm hiểu nguyên nhân và áp dụng những biện pháp về việc rèn đọc cho HS lớp 1 qua phân môn Tiếng Việt 1 – CNGD. Để biết được kết quả bước đầu của những phương pháp mình thực nghiệm thực tế, tôi đã cho học sinh của lớp mình thực hành đọc một số bài bất kỳ, em sau không đọc trùng bài của em trước và đánh giá ở các mức độ: - Đọc tốt: Đảm bảo đọc to rõ ràng, lưu loát, không có lỗi về phát âm. - Đọc khá tốt: Đọc to, rõ ràng. Phát âm đôi chỗ chưa thật sự đúng. Sai không quá 3 lỗi /bài. - Đọc được : Đọc còn nhỏ, đọc chậm và còn sai quá 5 lỗi chính tả/bài - Đọc chưa được: chưa đọc được hết bài. Sai nhiều lỗi phát âm. Sau khi thực hiện việc kiểm tra có kết quả như sau:
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_ren_ky_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_1_mon.pdf

