Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm day hoc nhằm giúp hoc sinh hoc tốt môn toán lớp 3 ở bậc Tiểu Học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm day hoc nhằm giúp hoc sinh hoc tốt môn toán lớp 3 ở bậc Tiểu Học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm day hoc nhằm giúp hoc sinh hoc tốt môn toán lớp 3 ở bậc Tiểu Học
PHẦN I. ĐĂT VÂN ĐÊ 1. Ly do chon đê tai Căn cứ Kế hoạch số 366/KH-PGD&ĐT ngày 12 tháng 9 của Phòng GD&ĐT về việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020. Nhằm hiện thực hóa chủ đề của năm học: “ Giữ vững kỷ cương, nền nếp trường lớp học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa ứng xử cho đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt cho chương trình đổi mới giáo dục phổ thông.” Để thực hiện tốt chương trình giáo dục, kế hoạch giáo dục cần có sự điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học một cách hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục Tiểu học phù hợp với đối tượng học sinh. Tiếp tục đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng giải quyết vấn đề đảm bảo linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả. Thực hiện việc dạy học gắn kết giữa kiến thức được học với vận dụng vào cuộc sống; tăng cường các hoạt động trải nghiệm, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống của học sinh. Do chương trình sách giáo khoa mới quy định dạy đủ 6 môn trong đó mỗi môn đều có tầm quan trọng riêng của nó. Thông qua quá trình dạy học các phân môn để hình thành cơ sở ban đầu về phát triển con người toàn diện cho học sinh. Cùng với môn Tiếng Việt, Đạo đức, TNXH, Nghệ thuật, Thủ công, môn Toán có vị trí quan trọng vì: - Việc thay sách Toán Tiểu học là một yêu cầu khách quan thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy là điều không thể chậm trễ. Song việc đổi mới như thế nào, bắt đầu từ đâu, người thực hiện ra sao thì quả là không dễ dàng chút nào. Muốn làm được việc đó người giáo viên giảng dạy phải dày công nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo. Thấm nhuần tinh thần đó, thời gian qua bản thân tôi đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, chủ động nắm bắt để giảng dạy đạt kết quả theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là thành công bước đầu. - Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà tất cả học sinh cần phải đạt được sau từng giai đoạn học tập. Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán đối với từng lớp ở Tiểu học đã được quy định tại Chương trình sách giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (ban hành kèm theo Quyết định số 16/ 2006 QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). - Bên cạnh đó Toán là một môn có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bởi lẽ Toán học không những cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng cần thiết để học lên các lớp trên hay áp dụng vào cuộc sống, mà toán học còn góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh, và hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu giáo dục toàn diện cho các em. - Mặt khác, trong trường tiểu học hịên nay, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán là môn có thời lượng giảng dạy cao hơn hẳn các môn học khác. Điều đó cho thấy môn Toán hết sức quan trọng trong việc dạy học. - Vì vậy, để giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải nghiên cứu, tìm những biện pháp kĩ thuật giảng dạy hay giúp học sinh dễ hiểu, phù hợp nhằm giúp học sinh dễ dàng đạt được kiến thức , kĩ năng môn Toán theo chuẩn . 2. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Tìm hiểu về nội dung quy định Chương trình sách giáo khoa toán 3. - Tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu có liên quan Chương trình sách giáo khoa toán 3, trao đổi với đồng nghiệp, với học sinh và tự rút ra những kinh nghiệm hay phù hợp để giảng dạy cho học sinh. 3. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh lớp 3. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp thực hành luyện tập. - Phương pháp tổng kết. 4. Đối tượng va pham vi nghiên cứu: a) Đối tượng: - Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3 mới. - Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu toán. - Nghiên cứu những biện pháp, kĩ thuật giảng dạy hay phù hợp với từng đối tượng học sinh, để khắc sâu kiến thức cũng như hình thành thói quen cộng tác, giúp học sinh nắm bắt được nội dung bài học cũng như để học tốt môn Toán. b) Pham vi: - Sáng kiến kinh nghiệm này viết trong phạm vi môn Toán lớp 3. Đề cập đến nội dung Toán 3 (hệ thống hoá kiến thức) phân tích nội dung Toán 3, phương pháp dạy Toán 3. - Công tác giảng dạy và quá trình thực hiện phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Tân An, năm học 2019 – 2020. 2 PHẦN II. GIAI QUYÊT VÂN ĐÊ 1. Cơ sở ly luận: Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó. Đó là phẩm chất vốn có của con người. Thông qua học Toán để đức tính đó được thường xuyên phát huy và ngày càng hoàn thiện. Chương trình Toán Tiểu học là một công trình khoa học mang tính truyền thống và hiện đại. Việc dạy Toán Tiểu học phải được đổi mới một cách mạnh mẽ về phương pháp, về cung cách lên lớp, về nhận xét và đánh giá học sinh theo Thông tư 30. Nghiên cứu chương trình Toán lớp 3 chúng ta thấy rằng đó là một nội dung hoàn chỉnh sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của trẻ trong độ tuổi. Nghiên cứu để thấy rõ nội hàm của nó, bản chất của nó mới có phương pháp giảng dạy sáng tạo. Sáng kiến kinh nghiệm là một tập hợp về nhận thức, cách nhận định, đánh giá, phân tích tình hình để tìm ra con đường đi mang lại kết quả theo mong muốn. Nếu chỉ dựa vào các văn bản của trên, dựa vào thiết kế bài dạy và sách giáo khoa để giảng dạy theo lối áp đặt thì quả là phản khoa học, không mang tính sư phạm tí nào. Như vậy dễ cho người dạy song khó cho người học. Và như vậy thì vai trò của người thầy sẽ không rõ. Qua đó tính sáng tạo cũng không có. Dạy Toán là dạy sáng tạo là dạy cách suy luận lôgíc thì phải mở rộng phạm vi ngoài sách giáo viên, sách giáo khoa, sách thiết kế của Bộ. Dạy Toán ta cần dạy cách làm việc sáng tạo, cách suy luận và cộng tác, cách sống nhân văn thời hiện đại. Thế nên, người giáo viên phải có tầm nhìn. Tầm nhìn đó vừa xa vừa thực tế, phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hết sức cụ thể. Muốn vậy người làm công tác giáo dục phải đọc nhiều, tích luỹ nhiều và phải rút ra được những điều cần thiết để vận dụng trong quá trình giảng dạy. Trong quá trình dạy học ở phổ thông nói chung, ở bậc Tiểu học nói riêng, môn Toán là một trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học ở Tiểu học. Môn Toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống. Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh ), năng lực cộng tác theo cặp đôi hoặc theo nhóm. Từ đó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ, biết hợp tác giúp đỡ bạn làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động. Giáo dục Toán học là một bộ phận của giáo dục Tiểu học. Do đó, môn Toán có nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là: Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen cộng tác 3 và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa tuổi. Tạo tiền đề cho học sinh học tốt môn Toán ở các bậc học tiếp theo và các môn học còn lại. 2. Cơ sở thưc tiên: Trong thực tiễn có nhiều điều khác với sách vở, có nhiều điều không sách vở nào nói hết. Toán học cũng vậy. Sách vở không nói hết mới cần đến vai trò của người thầy. Trong thực tiễn sách học không lường hết những tình huống xảy ra trong quá trình dạy học. Bởi vậy sách dạy chúng ta kĩ thuật truyền thụ kiến thức. Song chúng ta cũng có thể giúp người viết sách hoàn thiện các kĩ thuật dạy học một cách tốt hơn. Chưa nói tới đối tượng học sinh ở mỗi địa phương lại có sự khác nhau. Nhận thức của các em có sự chênh lệch, do đó người giáo viên tuỳ theo trình độ học sinh của lớp mình, của địa phương mình để lựa chọn các kĩ thuật dạy học cho phù hợp. Mặc dù là trường Thị trấn nhưng phần lớn các em học sinh lớp 3B đều cư trú ở các thôn, xóm. Do đó trình độ của các em học sinh lớp 3B có những điểm khác biệt so với lớp trình độ của của các em học sinh lớp 3A trong trường. Một số em môn Toán còn chưa đạt, cách học tập chưa rõ ràng, còn thụ động chưa mạnh dạn trong giao tiếp, trong việc tiếp thu bài. Song điều đáng nói, các em học sinh lớp 3B đều tập trung ở các thôn chưa thực sự quan tâm đến việc học của học sinh. Đa số các em đều có bố, mẹ đi làm ăn xa hoặc làm công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp nên ít có thời gian quan tâm đến con cái, phó mặc các em ở nhà với ông bà. Vì vậy, các em còn mải lo chơi chưa chú ý về học. Dẫn tới việc học tập còn xao nhãng chưa hình thành được thói quen học bài. Như vậy trách nhiệm nặng nề thuộc về người giáo viên trực tiếp đứng lớp. Cho nên bản thân tôi đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức trong việc học tập chuyên môn nhằm mục đích tiếp cận với phương pháp và kĩ thuật giảng dạy toán 3. 3. Thưc trang: Trong lớp vẫn còn học sinh chưa nắm vững, nắm chắc những kiến thức cơ bản về toán như: + Chưa thuộc bảng nhân, chia. + Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, hàng chục nghìn). + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc). + Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn. + Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán. Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên từng giảng dạy lớp 3B tôi thật sự băn khoăn và đặt ra nhiệm vụ là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinh 4 những kiến thức, kĩ năng và năng lực cơ bản giúp học sinh học tốt môn Toán. Chính vì thế nên tôi đã nghiên cứu và đưa ra: Một số kinh nghiệm day hoc nhằm giúp hoc sinh hoc tốt môn toán lớp 3 ở bậc tiểu hoc. 4. Các biện pháp tiên hanh: - Ngay từ những tiết ôn tập đầu năm và thông qua trò chơi “ Đố bạn” trong các giờ truy bài, tôi đã phân loại được trình độ học sinh của lớp 3B như sau: + Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 6/30 học sinh. + Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 5/30 học sinh. + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 8/30 học sinh. + Giải toán có lời văn chưa đạt: 9/30 học sinh. + Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 9/30 học sinh. (Giáo viên ghi tên cụ thể học sinh được phân loại trong sổ tay theo dõi của mình) - Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với việc học tập của các em, tôi đã cùng với Hội đồng tự quản của lớp lần lượt đến thăm nhà từng em một. Nên tôi nắm được 5 em gia đình thật sự khó khăn, 26 học sinh cha mẹ đi làm ăn xa nên không có thời gian thường xuyên chăm sóc, nhắc nhở. - Để thực hiện tốt việc phối kết hợp giữa Nhà trường - Gia đình. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã cùng với giáo viên chủ nhiệm lớp báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh. Đặc biệt là học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng của một số mạch kiến thức môn Toán 2. Tôi cũng trao đổi riêng với từng phụ huynh sau cuộc họp. - Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cho con em mình. Đồng thời tạo điều kiện cho con em có góc học tập tốt ở nhà. Đặc biệt là phụ huynh cùng với thày cô quan tâm, nhắc nhở và hình thành cho các em văn hóa đọc mọi lúc, mọi nơi để rèn kỹ năng đọc, hiểu nội dung bài. Rèn thói quen đọc sách của học sinh 5 - Nhắc phụ huynh thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, con em mình chuẩn bị đầy đủ sách vở cũng như đồ dùng học tập và ôn lại bài trước khi đến lớp. Phụ huynh đôn đốc, nhắc nhở con ôn lại bài trước khi đến lớp Qua hai tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến các em học chưa tốt môn toán Từ đó tôi phân tích, suy nghĩ tìm hiểu, lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học mới phù hợp với từng đối tượng nhằm giúp học sinh đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và hình thành năng lực cộng tác, chia sẻ kết quả với bạn trong quá trình học Toán. Cụ thể như sau: a) Luyện cho hoc sinh thuộc bảng nhân, chia. - Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, để học sinh học tốt môn Toán thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia. Bởi lẽ học sinh có thuộc bảng nhân, chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan. Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp. - Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm như sau: + Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh tự lập được bảng nhân, chia và rút ra các đặc điểm của bảng nhân, chia để nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau: VD: Bảng nhân * Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau. * Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị. (trong bảng nhân thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0). * Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ nhất. (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần). 6 VD: Bảng chia 7. * Các số bị chia trong bảng chia 7 là các tích của bảng nhân 7, và hơn kém nhau 7 đơn vị. * Số chia trong bảng chia 7 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 7 đều là 7. * Các thương của bảng chia 7 là thừa số thứ hai của bảng nhân 7. + Hàng ngày, đầu giờ học môn Toán hoặc đầu giờ truy bài, tôi đều tổ chức cho các em luyện đọc thuộc lòng một bảng nhân hoặc chia theo cặp (một em nêu phép nhân hoặc chia, em còn lại nêu kết quả tương ứng) và cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 cho đến bảng nhân, chia hiện học. + Sau mỗi giờ học Toán tôi cùng với Ban học tập thường xuyên kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia. Tôi tuyên dương những em đã có tiến bộ đồng thời động viên, khuyến khích các em còn lại . + Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng. Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 15 phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu. Sau đó, tôi yêu cầu học sinh đổi bài kiểm tra cho nhau rồi nhận xét, đánh giá. Cuối giờ tôi khen ngợi học sinh làm bài tốt, đồng thời cũng động viên, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt hãy cố gắng hơn nữa để phấn đấu bằng các bạn. + Tôi cũng thường xuyên khuyên học sinh hãy ghi lại những bảng nhân, chia nào mà các em chưa thuộc vào tập riêng. Hôm sau trình bày và đọc cho nhóm trưởng hoặc các bạn cùng nghe vào đầu giờ, sau đó nhóm trưởng báo cáo cho giáo viên. * Đặc biệt để khắc sâu kiên thức, tôi còn tổ chức cho hoc sinh chơi trò chơi VD: Trò chơi đoán kết quả (ôn lại bảng nhân) - Tôi chuẩn bị nhiều bảng ghi kết quả của các phép nhân theo thứ tự đảo ngược như sau: 80 64 56 72 48 24 16 72 48 32 40 16 56 64 80 40 24 32 7 Cách tổ chức: Giáo viên giao cho bạn Chủ tịch hội đồng tự quản phát cho mỗi bạn một bảng ghi kết quả đảo lộn như trên. Sau đó giao cho Chủ tịch hội đồng tự quản của lớp lần lượt đọc mỗi lần 1 phép tính trong bảng nhân 8 nhưng không nêu kết quả. Học sinh cả lớp cùng nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết quả đúng. Tiếp theo học sinh ngồi gần nhau đổi bài kiểm tra giúp bạn. Nếu học sinh nào đánh dấu đúng, đủ hàng ngang hoặc hàng dọc thì sẽ được cộng thêm điểm thi đua. Giáo viên quan sát lại tuyên dương học sinh làm bài tốt, khuyến khích, động viên các em còn lại. Tiếp tục như cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảng nhân, chia 2 đến 9. Qua thời gian không lâu lớp tôi có 29/30 học sinh thuộc tất cả bảng nhân chia từ 2 đến 9. Dưới đây là một số hình ảnh minh họa cho hoạt động trên. Chủ tịch hội đồng tự quản đọc các phép tính trong bảng nhân 8 Học sinh dưới lớp chọn kết quả đúng b) Hướng dẫn đoc, viêt, so sánh các số tư nhiên. 8 (Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan trọng trong chương trình toán 3). - Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và so sánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toán hợp. - Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi người giáo viên cần hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản sau: * Giúp hoc sinh hiểu các số tư nhiên. - Các số 0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 11; . . . là các số tự nhiên. - Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất. - Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị. - Các số 0; 2; 4; 6; . . . là các số tự nhiên chẵn, các số 1; 3; 5; 7; 9; 11,.. là các số tự nhiên lẻ. Hai số chẵn (hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị. - Nắm được tên và vị trí của các hàng (hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn). - Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số. VD: Dạy cho học sinh: - Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị. Tôi giúp cho học sinh nhận biết được là: hàng nghìn gồm các chữ số lớn hơn 0. VD: Các số 1974; 3746; 7581; có hàng nghìn lần lượt là các chữ số: 1, 3, 7. Không thể có hàng nghìn là chữ số 0 như: 0974; 0746; 0581; Vậy số có bốn chữ số có hàng nghìn nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 9. * Hướng dẫn đoc, viêt. - Hướng dẫn phân hàng: VD số: 9650. + Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị. - Số 9650: Có 9 nghìn, 6 trăm, 5 chục, 0 đơn vị. - Đọc số 9650: Chín nghìn, sáu trăm năm mươi. Giáo viên viết: 9650. Phân tích: 9 6 5 0 9nghìn 6trăm 5chục 0 đơn vị. Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị. - Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải). 9 - Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó. - Học sinh đọc: Chín nghìn, sáu trăm năm mươi. - Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau: VD: Số 6921 và 6911. - Số 6921 đọc là: sáu nghìn, chín trăm hai mươi mốt. - Số 6911 đọc là: sáu nghìn, chín trăm mười một. - Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 692, hàng đơn vị đọc là mốt, còn số 6911 hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng và đều là số “1” nhưng tên gọi lại khác nhau. Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên: VD: Số 9305 và 9325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm” và “lăm”. VD: Số 8010: Học sinh nhiều em đọc là “Tám nghìn không trăm linh mười”. Tôi hướng dẫn các em. Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 8010 đọc là: tám nghìn không trăm mười. * Hướng dẫn so sánh. Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì số đó bé hơn và ngược lại. VD: 99999 99. + Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn làm như sau: VD: Bài tập 3a trang 100: Để tìm số lớn nhất trong các số: 6375 ; 6735 ; 6537 ; 6753. Tôi hướng dẫn học sinh như sau: - Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau. Cụ thể trên bảng phần được xoá là: 6 3 7 5 6 7 3 5 6 7 3 5 6 5 3 7 6 7 5 3 6 7 5 3 Số lớn nhất 6753. 6 7 6 7 5 - Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị. 10 - So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đều bằng nhau là 6. Đến hàng trăm chọn được hai chữ số lớn là 7 có trong số 6735 và 6753. Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này( còn xóa bỏ số 6375 và số 6537). Tiếp tục so sánh hàng chục thì có 5 lớn hơn 3 nên tìm được số lớn nhất là 6753. c) Hướng dẫn cách đặt tính, thưc hiện phép tính (cộng, trừ, nhân, chia cột dọc) Theo tôi, đặt tính cũng là một việc hết sức quan trọng trong quá trình làm tính. Nếu học sinh không biết cách đặt tính hoặc tính sai sẽ dẫn đến kết quả sai. Vì thế theo tôi nghĩ, để học sinh có căn bản khi thực hiện phép tính phải nắm vững cách đặt tính, các thành phần cũng như sự liên quan trong khi tính cộng trừ, nhân chia. * Đối với phép cộng, trừ: (giúp học sinh nhớ và áp dụng) - Phép cộng (tên gọi, tính chất ,tìm thành phần chưa biết): VD: 2373 + 3322 = 5695 Số hạng số hạng Tổng + Nếu ta đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi. 2373 + 3322 = 3322 + 2373 = 5695 + Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết. 2373 + x = 5695 x = 5695- 2373 x = 3322 + Bất kì số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó. 2 + 0 = 2 - Phép trừ (tên gọi, tính chất ,tìm thành phần chưa biết): VD: 7265 - 5152 = 2113 Số bị trừ số trừ hiệu + Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ. x - 5152 = 2113 x = 2113 + 5152 x = 7265 11 + Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu. 7265 - x = 2113 x = 7265 - 2113 x = 5152 + Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó. 12 - 0 = 12 - Cách đặt tính và tính: Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị thẳng hàng đơn vị, hàng chục thẳng hàng chục, hàng trăm thẳng hàng trăm, hàng nghìn thẳng hàng nghìn). Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng (hoặc trừ) ta thực hiện từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái). Nên lưu ý học sinh đối với phép cộng có nhớ thì ta thêm số nhớ vào hàng kế tiếp, còn đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp. 735 VD: Phép cộng có nhớ một lần. + 127 862 5 cộng 7 bằng 12, viết 2 nhớ 1. 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6. Lần: 321 7 cộng 1 bằng 8, viết 8. * GV nói: Khi kẻ vạch ngang ngăn cách các số hạng với tổng, tất cả các em đều dùng bằng thước (lưu ý khi kẻ ta đặt bút thẳng chữ số ở hàng cao nhất và dừng bút khi kéo hết chữ số ở hàng bé nhất.) * Học sinh trao đổi theo nhóm rồi nêu nhận xét: Trong phép cộng có nhớ mà chỉ có hai số hạng, thì số nhớ lớn nhất bằng 1, không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.(trừ khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156). * Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng). - Phép nhân (tên gọi, tính chất ,tìm thành phần chưa biết): VD: 1427 x 3 = 4281 12 Thừa số Thừa số Tích + Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai. 1427 x 3 = 4281 + Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết. 1427 x x = 4281 x = 4281 : 1427 + Khi ta thay đổi các thừa số trong một tích thì tích không thay đổi. 3 x 8 = 8 x 3 = 24 + Số nào nhân với 1 cũng bằng chính số đó. 3 x 1 = 3; 6 x 1 = 6; . . . + Số nào nhân với 0 cũng bằng 0 và ngược lại. 9 x 0 = 0 - Đặt tính và tính: Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học sinh: Viết thừa số thứ nhất ở 1dòng, viết thừa số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số có 2, 3, 4 chữ số với số có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và thừa số thứ hai và lùi ra khoảng 1 đến 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ. Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị, sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái). Các chữ số ở tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn của thừa số thứ nhất. Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta viết chữ số ở hàng đơn vị, còn nhớ chữ số ở hàng chục. 3 nhân 4 bằng 12, viết 2 nhớ 1. VD: 3034 x Không viết 1 nhớ 2. 3 2 3 nhân 3 . . . . * Cho học sinh nêu thêm trường hợp: Nếu trường hợp như: 9 nhân 3 bằng 27, thì viết 7 nhớ 2, . . . (đối với phép nhân thì chỉ có nhớ 1, 2, . . . 8, không có nhớ 9) - Phép chia (tên gọi, tính chất ,tìm thành phần chưa biết): 13 VD: 9369 : 3 = 3123 Số bị chia Số chia Số thương + Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia. x : 3 = 3123 x = 3123 x 3 x = 9369 + Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương. 9369 : x = 3 x = 9369 : 3 x = 3123 + Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó. 5 : 1 = 5; . . . 9 : 1 = 9 + 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0. 0 : 8 = 0 * Giáo viên giải thích thêm cho học sinh: không thể chia cho 0 (Vì bất cứ số nào chia cho 0 cũng vô nghĩa và hoàn toàn không thể thực hiện được, học lên lớp trên các em sẽ được tìm hiểu kĩ hơn). 8 : 0 (không có nghĩa) + Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia cho thương. 7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy 3= (7 – 1) : 2 + Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi cộng với số dư. 7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy 7= 2 x 3 + 1 + Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1 đơn vị. ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8). VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số chia) - Đặt tính và tính: Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia là khó nhất vì: - Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết). Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, Đặc biệt đối với học sinh yếu 14 toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện. Thực hiện như sau: VD: Chia số có 4 chữ số cho số có 1 chữ số: 1276 : 3= ? - Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành phần trong cột dọc của phép chia. (sử dụng phần bảng được xoá) Số bị chia dấu chia số chia 1276 : 3 1276 3 Hạ 425 Thương tìm được. Số dư lần chia 1 07 Số dư lần chia 2 16 1 Số dư lần chia cuối cùng (P/chia có dư). * Giáo viên hướng dẫn để học sinh trao đổi trong nhóm rồi rút ra cách thực hiện phép chia cho số có một chữ số: + Lượt chia thứ nhất: - Nếu chữ số ở hàng cao nhất của số bị chia mà lớn hơn hoặc bằng số chia thì ta chỉ cần lấy một chữ số để thực hiện phép chia. - Trường hợp chữ số ở hàng cao nhất của số bị chia mà bé hơn số chia thì ta được phép lấy tới 2 chữ số đầu tiên tính từ hàng cao nhất (từ trái sang phải) của số bị chia để thực hiện lượt chia thứ nhất. - Kết quả ở mỗi lượt chia chỉ được viết bởi một chữ số ở thương (lưu ý chữ số ở hàng cao nhất của thương luôn > 0). - Số dư sau mỗi lượt chia phải nhỏ hơn số chia. + Lượt chia thứ hai: - Mỗi khi hạ một chữ số ở hàng tiếp theo xuống bên phải của số dư thì ta được một số bị chia ở lượt chia tiếp theo (lưu ý hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết mới thực hiện hàng đó, tránh nhầm sang hàng kế tiếp). Nếu số bị chia ở lượt chia thứ hai mà nhỏ hơn số chia thì ta phải viết thêm 0 vào thương rồi mới được hạ chữ số ở hàng kế tiếp xuống bên phải của số đó thì ta được số bị chia ở lượt chia thứ ba cứ lần lượt thực hiện như vậy cho đến hết. 15 * Học sinh rút ra nhận xét: trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn vị, hàng chục, Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tự từ trái sang phải, hoặc từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất (hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị). Nên trong quá trình thực hiện các em không còn đặt tính sai, cộng, trừ, nhân, chia không viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa. Đối với các em này, hàng ngày mỗi tiết học toán tôi gọi lên bảng thực hiện phép tính. Tôi cũng thường xuyên đến các em yếu toán, việc làm theo yêu cầu cần đạt của chuẩn kĩ năng, kiến thức. Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm một phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào vở. Cách trình bày từng con số, cách sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp. Nên mỗi lần thực hiện các em viết rất rõ ràng và tính chính xác. d) Hướng dẫn giải toán có lời văn. Đây là chuỗi kiến thức học sinh mất căn bản. Các em thường chưa biết phân tích đề toán, chưa biết suy luận, tổng hợp, so sánh tìm cách giải hợp lí cho từng bài. Vì vậy, trong mỗi tiết học gặp những bài toán giải có lời văn tôi yêu cầu học sinh như sau: - Phần đọc thành tiếng và đọc thầm. + Đọc kĩ đề toán, gạch chân từ, số quan trọng liên quan đến khâu giải. (GV theo dõi cả lớp đọc thầm và yêu cầu em nào cũng phải đọc, có đọc mới hiểu và làm bài đựơc). + Khi đọc xong cần nhận ra vấn đề cần giải quyết của bài toán là gì? - Phần hướng dẫn giải. + Hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng hình vẽ, lời câu văn, . . . + Tìm hướng giải (trao đổi với bạn): Phân tích hoặc tổng hợp. + Gợi mở khâu đặt lời giải rõ ràng, gọn, đúng yêu cầu bài toán. VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Có 28l mật ong đựng đều vào 7 can. Nếu có 12l mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế? Bước 1: Lớp đọc thầm sau đó trao đổi theo cặp nội dung của bài . Bước 2: GV gọi 2 cặp xác định cái đã cho và cái cần tìm (nhận ra vấn đề cần giải quyết), sau đó giáo viên gạch chân. + Cái đã cho: 28l mật ong, 7 can + Cái cần tìm: Có 12l mật ong đựng trong bao nhiêu can. 16 * Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi theo cặp để nhận ra (đại lượng nào cho biết 2 giá trị thì ghi sang trái dấu hai chấm (:), còn đại lượng nào cho biết 1 giá trị thì ghi sang bên phải dấu hai chấm (:), sau đó HS tự tóm tắt bài toán. 28 lít mật ong: 7 can 12 lít mật ong: . . . can? Bước 3: Tìm cách giải quyết vấn đề (HS thảo luận theo nhóm): + Bài toán hỏi gì? (có 12l mật ong thì đựng trong bao nhiêu can?) + Muốn biết 12l mật ong đựng đều mấy can, ta phải làm gì? (tìm xem 1 can đựng được bao nhiêu lít mật ong). + Muốn tìm được 1 can đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm thế nào? Số lít mật ong đựng trong 1can là: 28 : 7 = 4 ( l ) + Muốn biết cần bao nhiêu can để đựng hết 12l mật ong ta làm thế nào? Số can đựng 12l mật ong là: 12 : 4 = 3 (can) Đáp số: 3 can. (Nếu học sinh gặp khó khăn khi đặt lời giải và chọn phép tính thì GV hỗ trợ). - Song song với quy trình hướng dẫn giải, tôi luôn lưu ý học sinh cách trình bày bài giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như bài toán vừa trao đổi ở trên. Các em sẽ trình bày được như sau: Bài giải Số lít mật ong đựng trong mỗi can là: 28 : 7 = 4 (l) Số can cần để đựng hết 12l mật ong là: 12 : 4 = 3 (can) Đáp số: 3 can. - Làm xong HS đổi vở kiểm tra, nhận xét, đánh giá bài làm của bạn và giúp bạn sửa bài nếu cần. - Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi giảng dạy về giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao, và trong lớp bây giờ đã có chin phần mười học sinh giải thành thạo. g) Giúp hoc sinh nắm, thuộc các quy tắc đã hoc. 17 Tuy học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, nhưng cũng chưa giải hết được các bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi đã giúp cho các em thuộc và khắc sâu các quy tắc đã học để áp dụng vào làm toán tốt hơn, bằng cách làm như sau: + Tôi soạn lại các quy tắc đã học và có ví dụ , rồi in trên giấy A4, phát cho học sinh và yêu cầu các em phải học thuộc. + Tổ chức cho học sinh ôn lại quy tắc: Lớp tôi giảng dạy có 3 tổ tôi chia làm 6 nhóm. Tôi thường cho các nhóm thi với nhau về các quy tắc như sau: VD: Nhóm 1 nêu câu hỏi: Muốn gấp một số lên nhiều lần ta cần làm gì? Nêu xong gọi nhóm 2 hoặc nhóm 3; trả lời, nhóm nào trả lời được, sẽ giành được quyền nêu câu hỏi cho nhóm khác trả lời. (không được hỏi trùng câu hỏi). VD: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào? Hoặc: Muốn tìm thừa số chưa biết, . . . cứ làm như vậy, khoảng 15 phút chốt lại nhóm đặt và trả lời đúng nhiều thì nhóm đó sẽ được tuyên dương. (hàng tuần tổ chức cho học sinh 2 lần, để khuyến khích học sinh các nhóm thi đua học tập). Học sinh các nhóm thi trả lời câu hỏi của nhóm bạn đặt ra 18 - Qua khoảng thời gian không lâu lớp tôi giảng dạy có rất nhiều học sinh học thuộc và biết áp dụng rất tốt về quy tắc đã học. - Đặc biệt, theo tôi để có những kinh nghiệm và bồi dưỡng cho học sinh học tốt môn toán. Ngoài việc hưóng dẫn kĩ cho học sinh những kiến thức cơ bản và kèm học sinh yếu toán, tôi còn chú ý bồi dưỡng cho học sinh giỏi như sau:- Tôi tìm tồi, tham khảo sách báo, vở bài tập, chọn những bài toán lạ có những nội dung phù hợp và hay, để các em làm thêm những phút rảnh, hoặc làm thêm ở nhà nhằm giúp các em làm toán ngày càng giỏi hơn. VD1: Giáo viên nêu vấn đề cho học sinh giơ tay và trả lời nhanh, đúng bài toán: 82 x 2 + = 170 82 nhân 2 cộng mấy bằng 170? HS giơ tay nhanh và trả lời: 82 nhân 2 cộng 6 bằng 170. VD2: Hãy tìm số chẵn thích hợp điền vào ô vuông . 2 x + = 16 Để đạt được kết quả trên thì đòi hỏi: * Giáo viên. - Có tinh thần công tác giảng dạy phải có nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu, vượt nhiều khó khăn để dồn về công sức vào nhiệm vụ giảng dạy. - Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh hoạt kiến thức đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy trước khi lên lớp. - Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy, thì người giáo viên phải chuẩn bị những yêu cầu sau: + Chuẩn bị thiêt kê bai day. * Những việc làm để chuẩn bị bài dạy. Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu kiến thức, kĩ năng cần đạt được theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách giáo viên),... Sưu tầm nghiên cứu các kinh nghiệm , kĩ thuật dạy học trên các tập chí, tài liệu bồi dưỡng giáo viên về kiến thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương, trường lớp và hoàn cảnh học tập của từng học sinh. * Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung bài dạy học. Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng và năng lực; phẩm chất). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu cầu. 19 Lựa chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp sẽ thực hiện từng khâu từng đối tượng học sinh. * Soát lại việc chuẩn bị của học sinh về bài học. Tình hình nắm kiến thức đã học có liên quan, tình hình sách giáo khoa và đồ dùng học tập của học sinh. + Điêu kiện tiên hanh một tiêt day đat hiệu quả. Làm thế nào để có những tiết dạy đạt hiệu quả, chất lượng là nỗi trăn trở không của riêng ai đã và đang công tác trong ngành. Một tiết dạy trên lớp chỉ thực hiện trong khoảng thời gian 35 đến 40 phút. Để có một tiết dạy hiệu quả, cần nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố trung tâm là kiến thức và phương pháp hay chính là kĩ thuật tổ chức dạy học. Đích đến của kiến thức và kĩ thuật tổ chức dạy học ấy là phải làm sao cho học sinh "dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng". Về lựa chọn kiến thức: kiến thức phải chính xác, khoa học, phù hợp với "chuẩn KTKN", đảm bảo tính hệ thống, đủ nội dung, làm rõ được nội dung trọng tâm của bài học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Người dạy phải thật sự chủ động về kiến thức trong tiết dạy, không quá ôm đồm, phải bám vào trọng tâm. Về phương pháp hay chính là kĩ thuật tổ chức dạy học: Hiểu rõ đặc trưng bộ môn, vận dụng các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, hiệu quả, không gượng ép. Để tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả đến mỗi đơn vị bài học đều đòi hỏi những phương pháp hay mỗi kĩ thuật tổ chức dạy học rất cụ thể, riêng biệt cho từng bài. Biết sử dụng tình huống, tạo các tình huống có vấn đề để kích thích hứng thú học tập cho học sinh. Hệ thống câu hỏi trong quá trình thực hiện các phương pháp giảng dạy trên lớp phải phù hợp với nội dung bài học, với các đối tượng học sinh khác nhau trong từng lớp học. Đó có thể là câu hỏi tái hiện kiến thức, câu hỏi phát hiện, có thể là câu hỏi mở. Ngôn ngữ nói và trình bày bảng của người thầy phải đảm bảo tính sư phạm và tính khoa học .Để có một tiết dạy đạt hiệu quả, ngoài các yếu tố về phương pháp - phương tiện, phong cách sư phạm. Sẽ là ảo tưởng nếu tất cả các tiết lên lớp đều thành công như người thầy mong muốn. Nhưng một tiết lên lớp hiệu quả, đảm bảo chuẩn KTKN không phải là điều quá khó. Vấn đề nảy sinh là làm thế nào nuôi dưỡng những niềm đam mê ấy và khơi dậy, duy trì sự hứng thú ấy? Để có tiết dạy trên lớp đạt hiệu quả còn cần chú ý đến quá trình tạo không khí, thái độ, hứng thú học tập cho học sinh ở mỗi lớp học và với từng môn học. Mỗi nhà trường cần tạo nên và duy trì thường xuyên một không khí, thái độ học tập tích cực, sôi nổi trong toàn thể học sinh. Học sinh trường chúng tôi có phong trào học tập sôi nổi bởi ngoài việc dạy kiến thức, kĩ năng cho học sinh Nhà trường chú 20
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_day_hoc_nham_giup_h.pdf

