Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học

pdf 26 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học
 PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lí do chọn sáng kiến
 “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS” (Luật giáo dục năm 2005). Để đạt
được mục tiêu đó, hiện nay toàn ngành giáo dục đang triển khai Chương trình hành
động của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết 29/NQ-TW ngày
04/11/2013 của Ban hấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
Giáo dục và Đào tạo. Điều đó đòi hỏi phải đổi mới tất cả các thành tố bao gồm nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học,...theo yêu cầu phát triển phẩm
chất năng lực của người học, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức,
kỹ năng vận dụng vào đời sống thực tiễn cho học sinh. Cùng với đổi mới nội dung
là đổi mới tổ chức các hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục cấp tiểu học
do Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành đồng thời còn phải đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo của học sinh. Mục tiêu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là phát
huy tối đa năng lực của người học, trên cơ sở đó khơi dậy, bồi dưỡng và rèn luyện
khả năng sáng tạo trong hoạt động nhận thức, tạo điều kiện để mọi học sinh cùng
tham gia giải quyết nhiệm vụ học tập, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau đồng
thời phát triển năng lực giao tiếp, xử lý tình huống, đánh giá và tự đánh
giá,...Nhiệm vụ của giáo viên là phải đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cho
học sinh khi cần thiết, để học sinh vừa đảm bảo có kiến thức-kĩ năng, vừa có đủ
năng lực và phẩm chất để hoà mình vào nhịp sống của xã hội văn minh và hiện đại
như hiện nay.
 Khi tổ chức các hoạt động dạy học muốn học sinh "tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo" thì trước hết phải tạo một không khí học tập thật thoải mái và đầy
hứng thú vì sự hứng thú là căn nguyên cho mọi hành động của con người và tiếp
sức cho chúng ta tiến hành các hoạt động có hiệu quả. Điều này thể hiện rất rõ ở trẻ
em. Một khi trẻ có lòng ham mê một công việc thì chúng sẽ làm bằng được công
việc ấy. Nếu không có hứng thú và động lực học thì học sinh không thể học thực
sự. Được học thực sự thì học sinh mới học hết mình và khao khát mạnh mẽ để thu
thập điều gì cần thiết cho bản thân. Thái độ của học sinh lúc này thực sự chủ động
và tích cực. Vậy làm thế nào để có một môi trường học tập tốt cho học sinh?
 Một yếu tố rất quan trọng để tạo sự hứng thú đó là môi trường học tập. Môi
trường học tập có hiệu quả là một môi trường mà học sinh được bày tỏ hết khả
năng của mình một cách tự nhiên, thoải mái không bị gò bó bởi những mối quan hệ
phức tạp. Học sinh chỉ thấy thật hứng thú với các hoạt động học tập mà ở đó thầy
cô, ban bè cùng trao đổi, thảo luận, và lắng nghe các ý kiến của học sinh một cách
thực sự. Có như vậy, các hoạt động học tập mới diễn ra một cách tích cực, chủ
động tiếp nhận kiến thức và bộc lộ được hết khả năng sáng tạo của mình. 2
 Chính vì thế, năm học 2018-2019, tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu: “Một số
biện pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học".
Đến năm học 2019-2020, tôi tiếp tục áp dụng sáng kiến.
 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến
 Tìm ra các giải pháp xây dựng môi trường học tập có hiệu qủa nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi học
sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, năng động, linh hoạt
và có những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống.
 Giúp học sinh có thêm tinh thần hợp tác. Các em thêm yêu bạn bè, khăng
khít với lớp, gần gũi với mái trường.
 Chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong việc xây
dựng môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh Tiểu học.
 Rèn luyện cho bản thân tinh thần tự nghiên cứu khoa học trong công tác và
giảng dạy.
 3. Đối tượng nghiên cứu
 Học sinh lớp 5C và môi trường học tập của trường Tiểu học thị trấn Tân An,
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Điều tra nắm bắt thông tin về thực trạng của việc dạy học ở trường tiểu học.
 Đề xuất phương pháp tạo hứng thú cho học sinh khi tham gia vào quá trình
học; tạo được một môi trường học tập có hiệu quả cho học sinh tiểu học.
 Giúp giáo viên có cách nhìn nhận đúng đắn, rõ ràng về: phương pháp, cách
tổ chức các hoạt động dạy - học có hiệu quả. Đó là chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức các hình thức học tập đa dạng chú ý đến việc học, cách học và các
hình thức hoạt động ngoại khóa.
 Giúp giáo viên biết lựa chọn cách tổ chức các hoạt động học tập cho học
sinh nhẹ nhàng, thoải mái, gây hứng thú, sự tò mò, sáng tạo từ học sinh nhằm tạo
cơ hội và phát huy năng lực của người học.
 Giúp học sinh biết cách học, cách nghĩ. Khuyến khích học sinh tự học tập
tích cực, chủ động hợp tác để mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc học đồng thời
học sinh biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế góp phần rèn kỹ năng sống và
phát triển nhân cách cho học sinh.
 5. Phương pháp nghiên cứu
 - Phương pháp nghiên cứu lí luận dạy và học;
 - Phương pháp điều tra;
 - Phương pháp thống kê;
 - Phương pháp phân tích, so sánh;
 - Phương pháp thực nghiệm dạy học. 3
 PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan
 Mỗi con người ngay từ khi mới sinh ra đã phải sống trong một môi trường,
hoàn cảnh nhất định, có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát
triển thể chất, tinh thần của cá nhân. Môi trường tự nhiên và xã hội với các điều
kiện kinh tế, thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, truyền thống văn hoá, chuẩn
mực đạo đức... tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển động cơ,
mục đích, quan điểm, tình cảm, nhu cầu, húng thú, chiều hướng phát triển của cá
nhân... Thông qua hoạt động và giao lưu trong môi trường mà cá nhân chiếm lĩnh
được các kinh nghiệm, giá trị xã hội loài người, từng bước điều chỉnh, hoàn thiện
nhân cách của mình.
 Tác động của môi trường đối với sự phát triển của cá nhân là rất mạnh, phức
tạp, có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực, có thể cùng chiều hay ngược chiều,
chủ yếu là theo con đường tự phát. Mức độ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực như
thế nào, có được chấp nhận hay không trong quá trình phát triển nhân cách tùy
thuộc phần lớn vào trình độ được giáo dục. Đó là ý thức, niềm tin, quan
điểm, ý chí và xu hướng, năng lực hoạt động, giao lưu góp phần cải biến môi
trường của cá nhân. C. Mác đã nói: “Hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong một
mức độ con người sáng tạo ra hoàn cảnh".
 Có thể khẳng định ảnh hưởng to lớn của yếu tố môi trường đến quá trình
hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hoá vai trò của môi
trường là phủ nhận vai trò ý thức, sáng tạo của chủ thể, đó là sai lầm về nhận thức
luận. Ngược lại, việc hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò yếu tố môi trường cũng phạm
sai lầm của thuyết “Giáo dục vạn năng”. Do đó, phải đặt quá trình giáo dục, quá
trình hình thành và phát triển nhân cách trong mối quan hệ tương tác giữa các yếu
tố để có sự đánh giá đúng đắn.
 Các hoạt động dạy học và kết quả nhận được có những tình huống phức tạp.
Đó là, học sinh có thể chăm chỉ ở môn học này nhưng lại nghịch ngợm ở môn học
khác; giờ học này thì hứng thú và tích cực học tập, nhưng giờ học khác thì thụ
động và không tập trung; bài học này được tổ chức rất thành công ở lớp này nhưng
lại rất hạn chế ở lớp kia... Tại sao lại như vậy?
 Môi trường đã can thiệp, hội nhập một cách thiết thực trong việc dạy học.
Người giáo viên phải tạo ra một môi trường học tập có ảnh hưởng đến động lực cố
gắng của học sinh, tạo cho các em sự tự tin vào bản thân và tăng cường sự giao
tiếp, đánh giá tích cực lẫn nhau. Người giáo viên đó đã tạo nên một môi trường học
tập tích cực .
 Trường tiểu học thị trấn Tân An luôn chú trọng việc đổi mới phương pháp
dạy học, lấy học sinh làm trung tâm. Từ những năm học trước, nhà trường đã thực 4
 hiện tốt Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT kèm theo Thông tư 30/2014/TT-
BGDĐT đã đem lại nhiều hiệu quả, giúp học sinh hình thành nhiều năng lực và
phẩm chất tốt đẹp. Năm học 2019 - 2020 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết
29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban hấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới
căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo. Ngay từ đầu năm học, đồng chí Hiệu
trưởng đã triển khai chủ đề của năm học đến toàn thể giáo viên . Đó là: “Giữ vững
kỷ cương, nền nếp trường lớp học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sồng, kỹ năng
sống, văn hóa ứng xử cho đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt các
điều kiện cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”. Để thực hiện chủ đề này,
mỗi cán bộ quản lý, giáo viên của nhà trường luôn tích cực đổi mới về tư tưởng
nhận thức. Song song với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo duc là vấn đề rèn nền
nếp, đạo đức cho học sinh. Một yếu tố giúp cho việc thực hiện tốt chủ đề của năm
học đó chính là môi trường học tập của các em.
 Xuất phát từ yêu cầu của xã hội và thực tiễn của nhà trường, tôi đã luôn suy
nghĩ và trăn trở để làm sao có thể xây dựng được môi trường học tập tích cực có
hiệu quả. Sau một thời gian thực nghiệm, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng
sáng kiến này.
 2. Thực trạng về môi trường học tập của học sinh ở trường tiểu học thị
trấn Tân An
 * Thuận lợi:
 Ban giám hiệu, đặc biệt là đồng chí Hiệu trưởng luôn quan tâm đến việc tạo
cảnh quan môi trường sư phạm trong trường, trong lớp học. Hướng dẫn, tư vấn các
lớp cách trang trí tạo môi trường học tập đầy hứng thú cho học sinh. Như có góc
trưng bày sản phẩm của học sinh, góc nội quy của lớp để các bạn trong lớp thực
hiện,..
 Môi trường học sinh có ý thức tốt hơn 5
 Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, ngay từ đầu năm học,
nhà trường đã bồi dưỡng cho giáo viên về dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng,
cách nhận xét giờ dạy thông qua việc phân tích biểu hiện học tập của học sinh.
Giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, sử dụng có hiệu
quả thiết bị phương tiện dạy và học nên chất lượng giờ dạy được nâng lên. Nhiều
học sinh bộc lộ năng lực tự quản, năng lực giao tiếp rất tốt.
 Hầu hết các em học sinh đều ngoan, có ý thức học tập tốt, có nhiều học sinh
giỏi chăm ngoan, luôn có ý thức vươn lên trong học tập. Các em đều học tập trung
tại một điểm trường nên thuận lợi cho việc học tập và tham gia các hoạt động
ngoài giờ lên lớp của nhà trường, của Đoàn Đội. Học sinh có đầy đủ đồ dùng học
tập và trang thiết bị phục vụ học tập như: sách giáo khoa, vở bài tập, tài liệu tham
khảo, máy tính nối mạng...
 Nhà trường và giáo viên đã tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm sáng tạo
cho học sinh. Vì vậy mà các em đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
 Mặt khác, trình độ dân trí của thị trấn Tân An khá đồng đều, nền kinh tế xã
hội phát triển. Đảng bộ, chính quyền địa phương và đông đảo quần chúng nhân dân
đều quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, quan tâm đến nhà trường. Đa số cha mẹ học
sinh quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của con em mình và có tinh thần phối
hợp tốt với nhà trường. Nhà trường có bếp ăn bán trú và phụ huynh ở xa có thuê xe
ô tô đưa đón thuận tiện cho việc đi học đúng giờ và đảm bảo an toàn cho học sinh.
 * Khó khăn:
 Chất lượng học sinh ở trong lớp chưa đồng đều, khả năng tự học tập và hoạt
động nhóm của học sinh hiệu quả chưa cao, một số em ý thức học tập chưa tốt
chưa tập trung chú ý trong giờ học nên việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học
sinh làm trung tâm còn hạn chế.
 Học sinh thiếu tự tin khi trình bày ý kiến, chưa tích cực trong các hoạt động
học tập, còn ỷ lại vào thày cô và các bạn nên việc tiếp thu kiến thức một cách thụ
động, máy móc, không khắc sâu.
 Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hoàn cảnh éo le, một số
học sinh có bố mẹ là công nhân làm việc trong khu công nghiệp hoặc đi làm xa đặc
thù công việc vất vả và có ít thời gian quan tâm đến việc học tập của con em mình
nên đã ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Cụ thể lớp 5C có em Nguyễn
Hướng Minh Nhân ở Tổ dân phố Long Trì, bố mẹ bỏ nhau nên lúc thì em ở cùng
ông bà ngoại, khi thì ở cùng mẹ. Vẻ mặt lúc nào cũng buồn buồn, đôi khi trong lớp
em không tập trung. Hay em Phạm Hải Niên ở Tổ dân phố Hương, gia đình thuộc
hộ nghèo. Bố em sức khỏe không tốt, thỉnh thoảng đi phụ vữa. Mẹ em bị ngọng, ở
nhà làm ruộng, nuôi lợn. Bố mẹ nuôi hai anh em ăn học đã khó khăn nay mẹ lại
sinh thêm một em nữa lại càng khó khăn hơn. Ăn uống không đủ chất, học lớp 5
mà em chỉ nhỏ bé như học sinh lớp 2. Nhận thức chậm lại không được bố mẹ nhắc
nhở, hỗ trợ khi học ở nhà nên đến lớp em tiếp thu bài rất khó khăn. 6
 Các em đến trường luôn gặp khó khăn về giao thông vì tuyến đường 299 còn
rất chật chội vào giờ cao điểm. Vì vậy, các em mất nhiều thời gian hơn khi đến
trường hoặc phải nhờ ông bà, bố mẹ đưa đi.
 Như vậy, ngay chính những người làm công tác giáo dục như chúng ta cũng
cần thay đổi cách nhìn với học sinh. Tin tưởng vào các em, cho các em làm theo ý
thích, chúng ta chỉ định hướng các hoạt động và tham gia trợ giúp khi học sinh cần.
 3. Các giải pháp
 Lớp học là nơi học sinh có những thử nghiệm khác nhau và từ đó hình thành
kiến thức cũng như phát triển các kĩ năng của mình. Do vậy, trong giờ học, học
sinh cần trình bày ý kiến, quan điểm của mình một cách thẳng thắn. Ngay cả khi
những ý kiến đó là sai thì cũng không sao, thậm chí chúng ta nên hoan nghênh điều
đó bởi vì học sinh luôn học được những điều mới mẻ từ những lỗi mình mắc phải.
Chúng ta phải làm sao khuyến khích học sinh trình bày ý kiến không chút do dự.
Để làm được điều này, chúng ta phải nỗ lực tạo môi trường học tập tốt cho học
sinh trong lớp.
 Khi môi trường học tập thoải mái sẽ kích thích được hưng phấn trong công
việc nhất là với học sinh, chúng thấy hết ngại trong giao tiếp, sẵn sàng chia sẻ
những điều mình muốn nói, thấy tự tin hơn, hứng thú hơn với những công việc
mình làm và sẽ nỗ lực, cố gắng làm bằng xong công việc ấy.
 Học sinh chỉ tích cực hoạt động khi chúng thấy thích, thấy hứng thú với
công việc của mình làm. Ngược lại nếu trẻ thấy chán nản thì trẻ sẽ không muốn
làm bất cứ việc gì lúc này mà chúng ta giao việc, ép trẻ làm bằng sức mạnh và
quyền lực cho dù trẻ có thực hiện do chúng sợ bị kỉ luật, khiển trách thì thái độ làm
việc của chúng cũng thường thụ động và tiêu cực chứ không tích cực điều này
chúng ta vẫn thường bắt gặp trên các tiết học mà giáo viên dạy theo hướng truyền
đạt hết kiến thức của mình đề ra theo kế hoạch bài học đã được định sẵn không
quan tâm xem học sinh tiếp thu được đến đâu? Chúng làm việc như thế nào? Cần
mình giúp đỡ gì? Điều này đã được rất nhiều nhà làm công tác giáo dục quan tâm
và chia sẻ.
 Qua dự giờ, phân tích tiết học kết hợp với thực trạng của học sinh ở trường,
bằng những vốn kiến thức tôi tham khảo qua việc nghiên cứu mục tiêu các môn
học ở bậc tiểu học và phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, lắng nghe
những chia sẻ từ học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp và từ thực tế những công
việc mà tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy trên lớp, tôi thấy để giúp học sinh
có một môi trường học tập có hiệu quả cần đảm bảo những yếu tố sau:
 3.1. Cần tạo không gian lớp học gần gũi, thân thiện với học sinh
 Ngay từ đầu năm học, khi được nhận lớp, nhận học sinh, tôi đã tìm hiểu tình
hình lớp, tìm hiểu hoàn cảnh của từng học sinh. Tôi tiến hành phân chỗ ngồi, một
em nam với một em nữ, một em học khá với một em học kém hơn. Sao cho khi tổ 7
chức các hoạt động học nhóm vẫn đảm bảo trong nhóm có đủ trình độ năng lực
học sinh, để các em có sự trợ giúp, tương tác lẫn nhau trong học tập.
 Không gian phòng học lớp 5C
 Tiếp theo, tôi nghĩ đến việc tạo cảnh quan sư phạm xanh - sạch - đẹp, xây
dựng môi trường giáo dục “an toàn - thân thiện”. Thế là tôi cùng tất cả các học
sinh trong lớp bắt tay vào trang trí lớp học phù hợp với đặc điểm sinh lý của các
em. Mỗi em đều được góp công sức và nêu lên những ý tưởng sáng tạo của mình
để trang trí cho lớp học.v
 Các em học sinh đang thống nhất các nội quy của lớp 8
 Nội quy lớp 5C đã hoàn thành
 Tôi luôn nhắc các em kê bàn ghế ngay ngắn, sạch sẽ, gọn gàng để dễ dàng đi
lại, trao đổi khi các hoạt động học tập được diễn ra.
 Các mảng trang trí lớp học chủ yếu phục vụ cho học sinh. Làm sao để cuốn
hút học sinh có nhu cầu đọc, tham khảo, tìm hiểu các thông tin ở các mảng này.
 Góc trang trí Vườn Tiếng Anh 9
 Vườn Tiếng Anh được các em trang trí khá sáng tạo giúp các em nhớ nhanh
các từ mới, hiểu hơn về các chủ đề , nắm chắc các mẫu câu đã học.
 Thư viện thân thiện của lớp 5C
 Góc thư viện được sắp xếp khoa học giúp các em nhanh chóng lựa chọn
được cuốn sách mình cần.
 Góc trang trí của lớp 5C 10
 Góc trang trí kỹ năng sống PoKi nhắc các em cần học và trải nghiệm kỹ năng
sống ở mọi lúc, mọi nơi. Giúp các em rèn luyện kỹ năng tư duy, cách ứng xử trong
đời sống, kỹ năng xử lý tình huống để các em có thể tự phát triển về nhận thức
cũng như nhân cách bản thân sau này.
 Không khí lớp học xanh, sạch đẹp, an toàn, thân thiện là yếu tố quan trọng
góp phần thu hút trẻ đến trường, đến lớp, góp thêm cho lớp học một luồng không
khí thân thiện, thoải mái, sinh động, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Nó tạo
cho các em nhận thức về cái đẹp và có ý thức gìn giữ trường lớp của mình sạch
đẹp. Không chỉ ngoài sân trường mới cần có cây xanh mà ngay trong lớp cũng cần
có đủ ánh sáng, cây xanh, tạo không khí thân thiện, gần gũi với thiên nhiên.
 Cửa sổ phòng học lớp 5C 11
 Học sinh đang chăm sóc cây
 3.2. Chuẩn bị hệ thống thiết bị, đồ dùng dạy học khi lên lớp
 Sự lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả trong các hoạt động
dạy học là hết sức quan trọng. Đặc biệt, đối với các môn Khoa học, Lịch sử và Địa
lí, việc sử dụng công nghệ thông tin, các thiết bị nghe nhìn vào tổ chức các hoạt
động dạy học sẽ tạo hứng thú học tập cho các em.
 Khi tiến hành tổ chức các hoạt động học tập, tôi luôn nghiên cứu, lập kế
hoạch cho từng hoạt động xem ở hoạt động này cần đồ dùng dạy học nào hỗ trợ.
Sự lựa chọn và sử dụng chúng có hiệu quả trong các hoạt động dạy học là hết sức
quan trọng.
 Ví dụ, khi dạy bài "Lắp mạch điện đơn giản" - Khoa học lớp 5.
 Đồ dùng dạy học ở đây là: pin, bóng đèn, dây điện.
 Tổ chức hoạt động 1: Tìm cách thắp sáng bóng đèn (không cho học sinh mở
sách giáo khoa). Tôi đã tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm 4.
 Tôi đưa quả pin cho học sinh quan sát thật nhanh, rồi cất đi ngay. Hỏi em
nhìn thấy cái gì nào? Và cứ thế tiếp tục cho đến khi học sinh nhận biết hết pin,
bóng đèn, dây dẫn thì dừng lại.
 Sau khi học sinh nhận biết: Pin, bóng đèn, dây dẫn xong, tôi yêu cầu học
sinh làm thế nào cho bóng đèn sáng?
 Học sinh giải thích... Sau đó thực hành lắp mạch điện đơn giản (HĐ2)
 3.3. Cách ứng xử của giáo viên trong giờ học
 Chú ý lắng nghe học sinh phát biểu ý kiến 12
 Như chúng ta đã biết chia sẻ ý tưởng giữa các bạn cùng lớp là có ích. Tuy
nhiên điều này không dễ dàng thực hiện bởi vì muốn chia sẻ có hiệu quả thì chúng
ta phải trình bày rõ ràng và lắng nghe người khác nói. Khi tôi quan sát các hoạt
động học nhóm của học sinh thấy thông thường các em tranh nhau phát biểu ý kiến
và không em nào chịu lắng nghe bạn nói cả.
 Để làm cho học sinh chú ý lắng nghe người khác nói, thì trước hết chính bản
thân tôi cũng phải lắng nghe từng học sinh phát biểu. Tôi rèn cho học sinh thói
quen lắng nghe bạn chia sẻ qua từng tiết dạy. Ban đầu cũng rất khó khăn và mất
nhiều thời gian. Dần dần các em cũng hình thành thói quen, đợi bạn phát biểu, chia
sẻ hết, nếu có ý kiến bổ sung mới giơ tay xin phát biểu. Như vậy, lớp học trật tự
mà tiết học lại không bỏ sót một ý kiến nào, vẫn phát huy hết năng lực của các em.
 Giáo viên chú ý lắng nghe học sinh giải thích
 Học sinh lớp 5C đang chăm chú lắng nghe bạn chia sẻ ý kiến 13
 Tìm mối liên hệ giữa các ý kiến của học sinh
 Sau khi lắng nghe học sinh phát biểu, tôi luôn xem ý kiến đó có liên hệ với
nội dung bài học như thế nào. Nếu không, học sinh trong lớp sẽ không chú ý tới ý
kiến đó và bắt đầu phát biểu hết ý này đến ý khác. Tìm ra được mối liên hệ giữa
một ý kiến với nội dung bài là điều rất quan trọng làm cho ý kiến đó có giá trị. Nếu
ý kiến của học sinh có mối liên hệ với nội dung tôi đáp lại lời của học sinh đó là:
“Đúng, đây là một ý kiến hay. Ý kiến của em dựa vào nội dung của đoạn 1 trong
bài đúng không ?” Sau thông tin phản hồi đó các em hiểu được tại sao bạn đó lại
trả lời như vậy và các em cảm thấy dễ dàng tiếp tục phát biếu ý kiến hơn. Còn nếu
ý kiến đó có mối liên hệ với các ý kiến khác thì tôi nói “Cô đã nghe có bạn ... phát
biểu ý kiến tương tự của em rồi đấy. Vậy em cho cả lớp biết điểm khác nhau giữa ý
kiến của em và của bạn được không? Em hãy giải thích thêm xem nào ?”. Hoạt
động này làm cho phương hướng của bài học trở nên rõ ràng hơn và cũng giúp các
em cảm thấy dễ dàng tiếp tục phát biểu ý kiến của mình hơn.
 Quan sát học sinh trong giờ học:
 Trước đây, tôi thường hay tập trung ánh mắt vào những học sinh khá giỏi
hoặc học sinh cá biệt trong lớp. Khi đã thật sự bất lực trước học sinh cá biệt thì
giáo viên thường bỏ chúng ra khỏi tầm quan sát, rồi tập trung vào những học sinh
tích cực. Phần lớn những học sinh không có gì nổi bật sẽ bị tôi “lướt nhanh”, gạt ra
tầm quan sát. Trong suốt khoảng thời gian bị lãng quên đó, không ít em đã âm
thầm nỗ lực, muốn thay đổi bản thân để gây ấn tượng với tôi. Song những cánh tay
giơ lên rụt rè, ánh mắt ngượng nghịu của chúng vẫn tiếp tục nằm ngoài tầm quan
sát của tôi. Và tôi thấy các em đó sẽ thực sự thất vọng và chúng cảm thấy mất niềm
tin vô cùng. Vì thế, một nguyên tắc quan trọng để hiểu học sinh là “Hãy mở rộng
tầm mắt, mở rộng tâm hồn để quan sát tất cả các em và đoán nhận những thay đổi
dù là nhỏ nhất ở mỗi học sinh của mình”. Bây giờ,khi bước vào lớp học, tôi lướt
ánh mắt qua tất cả các gương mặt thân yêu, lắng nghe những âm thanh có trong lớp
học xem có biểu hiện gì “bất thường” hay không. Khi dạy học, tôi tập trung quan
sát thái độ của học sinh thể hiện qua nét mặt, hành vi: thích thú, tích cực hay chán
nản. Quan sát kĩ năng thực hiện nhiệm vụ học tập của các em để biết nhiệm vụ có
vừa sức không, có hiểu lời hướng dẫn không, học sinh nào hứng thú, học sinh nào
chưa hứng thú; hoạt động nào thu hút được học sinh tham gia; những học sinh nào
tham gia tích cực, học sinh nào chưa tham gia tích cực; những học sinh nào có biểu
hiện khác thường so với mọi ngày Từ việc quan sát chi tiết, tỉ mỉ như vậy tôi đã
tìm ra nguyên nhân và có giải pháp điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học cho phù hợp.
 Để các em “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” thì bản thân tôi luôn tự
phấn đấu, không ngừng học hỏi để trở thành tấm gương “đạo đức, tự học và sáng
tạo”. Tôi luôn luôn lắng nghe các em bằng tất cả các giác quan, bằng tình thương 14
yêu, sự bao dung, tha thứ. Chính điều ấy sẽ là tấm gương sáng để các em noi theo,
giúp cho các em hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất một cách toàn diện.
 Không so sánh, trách mắng học sinh
 Học sinh thường hay nêu ý kiến sai trong lớp học. Tôi không trách mắng
mà động viên, khích lệ, giúp học sinh tìm ra lí do tại sao mình sai để giúp các em
quay trở lại nội dung bài học mà không áp đặt câu trả lời đúng.
 Ví dụ: Đặt tính rồi tính 25,8 x 3,1
 Khi học sinh thực hiện phép tính cho kết quả là 799,8 và 10,32. Những học
sinh có kết quả 799,8 thì cứ nghĩ là khi đặt dấu phẩy ở tích là đặt thẳng cột với dấu
phẩy ở hai thừa số. Còn học sinh có kết quả là 10,32 thì nhầm khi đặt vị trí của tích
riêng thứ hai nên khi cộng hai tích riêng lại với nhau cho kết quả như vậy. Khi tôi
đã xử lý tốt các trường hợp mắc lỗi này thì chắc rằng những lỗi tương tự sẽ không
bao giờ xảy ra với học sinh nữa.
 Trợ giúp học sinh
 Khi học sinh làm bài tập hay khi thảo luận nhóm tôi luôn chú ý đến nét mặt,
thái độ của học sinh để phát hiện xem học sinh nào cần trợ giúp. Khi các em không
dám bày tỏ, tôi gần gũi hoặc dùng câu nói gợi mở pha chút đùa để em đó thấy
thoải mái hơn khi bày tỏ thắc mắc của mình, sau đó mới trợ giúp các em tìm tòi,
khám phá kiến thức một cách nhiệt tình, cởi mở, thân thiện với các em.
 Giáo viên trợ giúp học sinh trong giờ Luyện từ và câu 15
 Dành đủ thời gian suy nghĩ cho học sinh
 Im lặng tập trung suy nghĩ không hẳn là các em lơ đãng không tập trung, trong
lớp có vài học sinh như vậy nên tôi đã dành cho các em một khoảng thời gian nhất
định để tìm ra từ ngữ thích hợp khi trình bày một ý kiến nào đó.
 3.4. Nội dung học tập
 Nội dung học tập ở mỗi giờ học phải lựa chọn tính vừa sức, kích thích sự tò
mò, hứng thú cho học sinh.
 Những năm học trước, trong giờ học tôi thường nêu yêu cầu với mức độ
trung bình của học sinh. Và tôi thấy chỉ một số học sinh thuộc nhóm trung bình là
học thực sự. Số còn lại không thể học thực sự được bởi vì nội dung thì quá dễ với
những em thuộc nhóm khá, nhưng lại quá khó với những em thuộc nhóm yếu. Nếu
ta không vận dụng phương pháp dạy học tích cực thì không bao giờ giải quyết được
vấn đề này.
 Để giải quyết vấn đề này, tôi đã đề ra mức cao hơn về nội dung học tập so
với mọi khi. Và như vậy học sinh thuộc nhóm khá mới được học thực sự. Đồng
thời cũng phải tích cực đưa nội dung những câu hỏi thuộc nhóm yếu nêu ra. Ví dụ,
trong giờ Toán lớp 5, khi dạy bài "Hỗn số - tiếp theo". Khi cung cấp kiến thức
chuyển hỗn số về phân số, tôi chỉ cần đưa một hỗn số 3 4 sau đó yêu cầu học sinh
viết dưới dạng phân số. Học sinh sẽ làm: 5
 3X 5 4 19
 3 4 = 3 + 4 = = học sinh chỉ cần làm được như thế này là
 5 5 5 5
được. Nhưng khi tôi đưa yêu cầu cao hơn về nội dung học tập cho hoạt động này
như sau: Cô có phép tính 2 3 + 5 1 các em cùng thảo luận và tính nhé. Đây là một
 4 7
vấn đề khó bởi vì học sinh chưa học cách cộng hai hỗn số mà mới chỉ biết cách
cộng hai phân số. Kết quả là tất cả học sinh trong lớp đều tích cực tìm ra cách giải
quyết phép tính này. Cuối cùng các em đã hoàn thành nhiệm vụ khó khăn đó và
biết được tác dụng của việc chuyển từ hỗn số sang phân số.
 3.5. Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm cộng tác trong lớp học 16
 Dạy học theo nhóm là hình thức giảng dạy đặt học sinh vào môi trường học
tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp. Dạy
học theo nhóm giúp người học tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực,
tránh tính thụ động, ỉ lại Với cách dạy học này, người học được làm việc cùng
nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào
nhiệm vụ đã được phân công sẵn. Hơn nữa, người học được thực thi nhiệm vụ mà
không cần sự giám sát trực tiếp, tức thời của giáo viên. Nhiệm vụ học tập cần thực
thi là nhiệm vụ mà người học không thể giải quyết một mình, cần thiết phải có sự
cộng tác thực sự của các thành viên.
 Học sinh lớp 5C đang tích cực thảo luận trong nhóm
 Đối với cấp tiểu học, việc rèn cho các em kĩ năng học tập hợp tác nhóm là
hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có cơ hội giao lưu học hỏi, giúp đỡ lẫn
nhau, góp phần vào việc hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho học
sinh. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, khi áp dụng kĩ thuật dạy học theo nhóm,
theo tôi, giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:
 - Soạn bài: cần lựa chọn tình huống, câu hỏi trong bài học có độ khó tương
đối, có hướng mở, đòi hỏi người học phải tham gia thảo luận, tranh cãi mới “ ra
vấn đề”.
 - Chia nhóm: tuỳ theo nội dung câu hỏi hoặc đối tượng học sinh, có thể chia
nhóm theo các cách như: gọi số, theo trình độ, sở thích, màu sắc, biểu
tượng Song số lượng thành viên của mỗi nhóm từ 2 đến 5 em là hiệu quả nhất. 17
 - Phân công trách nhiệm các thành viên trong nhóm: mỗi thành viên đều có
nhiệm vụ ( trưởng nhóm, thư kí, báo cáo viên, người theo dõi thời gian ), nhiệm
vụ không cố định mà tiến hành luân phiên nhau sau mỗi lần hoạt động nhóm.
 - Nhiệm vụ học tập khi học nhóm: cần cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn, đủ để các
thành viên trong nhóm hiểu rõ nhóm mình phải làm gì, trong thời gian bao lâu.
 - Tổ chức quản lí nhóm: Cần nói rõ cho học sinh biết rằng kết quả đánh giá
theo nhóm, không theo cá nhân, thành công của nhóm là thành công của mỗi cá
nhân, mọi thành viên đều phải nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ. Giáo viên cần theo
dõi, hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời.
 - Tổ chức báo cáo: cần quy định thời gian cụ thể cho từng nhóm khi lên báo
cáo, không phê bình chỉ phân tích điểm hợp lí và chưa hợp lí mà các nhóm thu
hoạch được, để tiến tới kết luận chung.
 Học tập theo nhóm cộng tác giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ
động, tích cực hơn. Thích thú và say mê nghiên cứu, trao đổi với bạn.
 Khi tổ chức các hoạt động nhóm cho học sinh, muốn các em hoạt động tích
cực, có thể phát triển các ý tưởng cá nhân học sinh thông qua việc cùng chia sẻ và
trao đổi các ý kiến khác nhau trong nhóm nhỏ. Ví dụ, khi một học sinh trong nhóm
phát biểu ý kiến của mình, các em khác chăm chú lắng nghe. Sau khi đã nghe các ý
kiến khác nhau của các thành viên trong nhóm, mỗi em cố tiếp thu các ý kiến khác
nhau đó và xây dựng thành ý kiến riêng của mình. Ngoài ra trong nhóm, một số em
hỏi một bạn “Mình có thể giải bài này như thế nào?”, thế là bạn đó trả lời và giải
thích một cách cặn kẽ. Thông qua hoạt động này, không chỉ một số em mà là toàn
bộ học sinh trong lớp có thể học tập thực sự và hoàn thành tốt các bài tập. Bí quyết
nào dẫn tới sự thành công trong việc tổ chức học nhóm?
 Mối quan hệ học tập giữa các học sinh là rất quan trọng. Điều này khác với
mối quan hệ dạy học vốn chỉ là mối quan hệ một chiều. Giao tiếp trong quan hệ
học tập bắt đầu với câu hỏi do học sinh không hiểu bài đặt ra. Ví dụ, “Mình có thể
giải bài này thế nào?”. Trong mối quan hệ học tập, nếu không có câu hỏi của học
sinh không hiểu bài, thì các em học sinh hiểu bài sẽ không bao giờ chủ động dạy
cho em đó học. Tuy nhiên, một khi được yêu cầu giúp đỡ là các em đáp ứng ngay
lời yêu cầu đó. Sự quan tâm này tạo nên mối quan hệ học tập, tăng cường học tập
cộng tác trong nhóm ngày một sâu hơn.
 Về thời điểm bắt đầu, có 2 cơ hộ để bắt đầu. Cơ hội thứ nhất giúp việc học
tập của cá nhân học sinh có tính chất cộng tác, trong khi cơ hội thứ hai nhằm vươn
cao và tạo những bước nhảy trong hoạt động cộng tác. Tầm quan trọng to lớn của
việc học tập theo nhóm nằm trong cơ hội thứ 2, thì cơ hội thứ nhất cũng cần được
tích cực tận dụng. Học tập cá nhân thường được tiến hành dưới hình thức mỗi học
sinh tự xoay sở với các bài tập được giao. Trong trường hợp này, em nào hiểu bài
sẽ hoàn thành bài tập của mình rất nhanh, trong khi các em không hiểu bài thì ngồi
chơi và không làm được gì. Và chẳng em nào thực sự học được gì. Cho nên ngay 18
cả việc học tập cá nhân cũng nên nâng lên thành học tập theo nhóm. Tuy nhiên
toàn bộ ý nghĩa của việc hoạt động nhóm là để vươn cao và tạo bước nhảy. Nếu
nhiều em còn lúng túng thì ta nên lập tức để các em thành lập nhóm và tiến hành
học tập cộng tác.
 Về thời điểm kết thúc, nên kết thúc học nhóm ngay trước khi học sinh không
tập trung vào hoạt động. Mặc dù các giáo viên dự trù các hoạt động theo nhóm
trong khoảng 6 phút, nhưng nếu em thích học thì nên dành hẳn 10 - 15 phút cho
hoạt động đó. Ngược lại, mặc dù dự trù 15 phút cho hoạt động nhóm nhưng nếu
học sinh không tập trung vào hoạt động thì chúng ta có thể dừng lại sau 5 phút.
Quyết định kịp thời này của giáo viên là một bí quyết thành công của việc học tập
cộng tác.
 3.6. Hoạt động trải nghiệm luôn tạo cho các em môi trường học tập hiệu
quả
 Hoạt động trải nghiệm ở Tiểu học nhằm hình thành những phẩm chất chủ
yếu, năng lực chung và một số năng lực đặc thù như: năng lực thiết kế và tổ chức
hoạt động, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các kỹ năng
khác cho học sinh. Qua các buổi trải nghiệm, các em vừa được học, vừa được làm,
vừa được rèn luyện các kĩ năng, vừa được tham gia các hoạt động một cách thoải
mái nhất. Đây cũng chính là cơ hội để tôi tìm biện pháp tạo hứng thú cho các em
học sinh. Chính vì thế, ngay từ đầu năm học, bản thân tôi và các đồng chí giáo viên
chủ nhiệm trong trường đã lập kế hoạch hoạt động trải nghiệm cho từng tháng và
đã thực hiện theo kế hoạch.
 Hoạt động trải nghiệm tháng 9 của học sinh lớp 5C: Tổ chức sinh nhật cho bạn 19
Học sinh lớp 5C làm thiệp chúc mừng thầy cô
 Buổi trải nghiệm của học sinh khối 3 20
 Cô giáo cùng học sinh khối 5 dâng vòng hoa tại nghĩa trang liệt sĩ Tân An
 trong buổi trải nghiệm của khối
 3.7. Hoạt động ngoại khóa.
 Tổ chức tốt các buổi hoạt động ngoại khóa, phát huy vai trò của hội đồng tự
quản trong việc tổ chức điều hành các hoạt động ngoại khóa. Thay đổi môi trường
học, học sinh có kiến thức từ thực tế sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức hơn. Đồng
thời phát huy năng lực của người học tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ được thể hiện.
 Khi tổ chức các hoạt động này tôi nêu rõ mục đích, thời gian, địa điểm của
việc tham quan này. Học sinh phải có giấy bút để ghi lại các hiện tượng mà mình
quan sát được.
 Muốn hoạt động này thành công thì giáo viên phải chủ động phối kết hợp với
gia đình và cộng đồng trong việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh như:
Vui tết trung thu, ngày hội Mỹ thuật 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_xay_dung_moi_truong_h.pdf