SKKN Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4

pdf 39 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4

SKKN Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4
 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO YÊN DŨNG
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO VIÊN GIỎI VÒNG 3 CẤP HUYỆN CHU KỲ 2018-2020
 Mã số:
 Tên sáng kiến:
 Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
 trong dạy môn Khoa học lớp 4
 Yên Dũng, tháng 5 năm 2020 Phần I: PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lý do chọn đề tài.
 Với chủ đề năm học 2019-2020: “Giữ vững kỷ cương, nền nếp trường lớp;
chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa ứng xử cho đội ngũ
nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt các điều kiện cho chương trình giáo
dục phổ thông”. Đồng thời tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các kỹ
thuật dạy học theo hướng dẫn chuyên môn của các cấp để phát triển năng lực và
phẩm chất của học sinh.
 Nhận thức được tầm quan trọng đó, các thầy cô ngành giáo dục nói chung và
bản thân tôi nói riêng đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi vận dụng các phương
pháp giáo dục mới, hiệu quả để đổi mới. Mục đích của việc đổi mới phương pháp
dạy học là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương
pháp dạy học tích cực”, với các kĩ thuật dạy- học tích cực nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự
học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác
nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú học tập. Làm cho
học là quá trình kiến tạo, học sinh tự tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai
thác và sử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con
người mới: tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống. Hơn nữa trên thực tế, trong
nhiều năm qua từ một số cuộc thi “quốc tế” cho thấy học sinh của chúng ta luôn
xuất sắc trong kiến thức về lý thuyết nhưng lại kém hơn trong thực hành. Trong xu
thế hội nhập quốc tế, nền kinh tế ngày càng phát triển sẽ đòi hỏi con người ngày
càng toàn diện hơn. Không chỉ xuất sắc về Kiến thức mà còn phải giỏi về Năng lực.
 Để đáp ứng được những yêu cầu trên thì không thể không kể đến phương
pháp “Bàn tay nặn bột”. Đây không phải là phương pháp mới được vận dụng vào
năm học 2019-2020, mà là một phương pháp đã được vận dụng vào dạy học trong
những năm học gần đây. Nhưng đây luôn là một phương pháp dạy học tích cực,
thích hợp cho việc giảng dạy kiến thức khoa học, tự nhiên và xã hội. Thật vậy
phương pháp “Bàn tay nặn bột” chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học
sinh bằng các thí nghiệm, hiểu biết, tìm tòi, nghiên cứu để chính các em tìm ra câu
trả lời cho các vấn đề đặt ra trong cuộc sống thông qua các tiết học, qua quá trình
làm thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu. Với một vấn đề khoa học đặt ra, học
sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành
các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông
qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức. Cũng như các phương pháp
dạy học tích cực khác phương pháp “Bàn tay nặn bột” luôn coi học sinh là trung
tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội
kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Mục tiêu của phương pháp “Bàn tay nặn
bột” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học
sinh. tự nhiên, giúp các em tiếp cận với thế giới xung quanh một cách tự nhiên, gần
gũi thông qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu tìm tòi. Các em tự rút ra 3
kiến thức cho riêng mình mình. Qua sự tương tác với các học sinh khác cùng lớp
để tìm phương án giải thích hiện tượng.
 Để đạt được những mục đích đó bên cạnh việc dạy tốt môn Khoa học, tôi đã
đặt ra cho mình mục tiêu giúp học sinh nắm được kiến thức của bài học theo phương
pháp mới, cũng như tạo cơ hội để cho học sinh được rèn luyện Năng lực, Phẩm chất
của người học, được thể hiện mình, được giao tiếp, cộng tác và thấy được niềm vui
trong học tập để phát triển mình. Bản thân tôi luôn thấy rõ ưu điểm vượt trội của
phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Vì vậy tôi đã chọn sáng kiến “Một số kinh
nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học lớp 4”
để nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học môn Khoa học ở Tiểu học, đăc biệt là với học sinh lớp 4 hiện nay.
 2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
 Qua nhiều năm vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào thực tế giảng
dạy môn Khoa học lớp 4. Bản thân tôi luôn thấy: Phương pháp dạy học này đã thể
hiện được nhiều ưu điểm vượt bậc so với các phương pháp dạy học truyền thống
khác. Việc áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào tiết dạy giúp học sinh
được thực nghiệm nhiều hơn. Giáo viên có thể khai thác những kiến thức trong đời
sống thực tế của học sinh từ đó giúp học sinh tự tìm hiểu và hình thành kiến thức
mới của bài học. Phát huy được tối đa tinh thần làm việc theo nhóm của học sinh.
 Đặc biệt tiết học tạo được sự hứng thú từ phía học sinh, học sinh hào hứng, vui vẻ,
thích học tập và say mê tìm tòi. Giúp học sinh ghi nhớ được kiến thức ngay tại lớp
học, và nhớ lâu hơn. Vì vậy tôi muốn tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào
thực tế giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học, đặc biệt với học sinh lớp 4 để rút ra
những bài học kinh nghiệm trong dạy học nhằm phát huy tối đa tác dụng của
phương pháp vào quá trình dạy – học, góp phần nâng cao chất lượng trong công
tác dạy học và giáo dục học sinh phát triển toàn diện tại trường Tiểu học thị trấn
Tân An hiện nay. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu đổi mới về giáo dục hiện nay.
 3. Đối tượng nghiên cứu.
 Đối tượng nghiên cứu trong Sáng kiến là giáo viên và học sinh lớp 4 Trường
Tiểu học thị trấn Tân An.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 Với Sáng kiến này sẽ góp phần giúp giáo viên lựa chọn nội dung phù hợp
với phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong từng bài dạy và vận dụng có hiệu quả
phương pháp dạy học này. Phương pháp mà trong đó học sinh được độc lập tự chủ,
mạnh dạn nói lên những hiểu biết của mình và được tập thể tôn trọng, đồng thời
được bảo vệ quan điểm của mình trước tập thể bằng cách đề xuất và tự tiến hành
thí nghiệm mà không còn cảm thấy e ngại, rụt rè.
 Giúp học sinh thấy mình như một nhà nghiên cứu khoa học nhỏ tuổi. Từ đó
các em say mê học tập hơn. Các em khám phá thế giới tự nhiên không chỉ ở chỗ
độc lập, sáng tạo, mà còn thấy mình ngày càng hiểu biết được nhiều hơn, nghĩ ra
nhiều phương án, nhiều phát minh được tập thể lớp, cô giáo và mọi người xung
quanh chấp nhận. 4
 Giúp các em học sinh hiểu Khoa học chứa đựng nhiều điều thú vị kèm theo sự
say mê từ đó các em có quyết tâm chinh phục, biết thắc mắc và đặt câu hỏi rồi đi tìm
câu trả lời thuyết phục, làm cho hoạt động khám phá diễn ra không ngừng nơi người
học, dần dần hình thành ở các em phương pháp học, phương pháp tiếp cận tri thức
khoa học để đáp ứng được xu thế thời đại- Thời đại bùng nổ thông tin, với một khối
lượng tri tức khổng lồ mà nhà trường không đủ khả năng truyền tải hết.
 5. Phương pháp nghiên cứu.
 - Phương pháp đọc tài liệu.
 - Phương pháp điều tra.
 - Phương pháp quan sát.
 - Phương pháp phân tích tổng hợp.
 - Phương pháp thực nghiệm.
 - Phương pháp đàm thoại phỏng vấn.
 - Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
 Phần II: PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan.
 Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Việc
tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn
học ở Tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng,
nhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó nâng
cao chất lượng dạy học. Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng
được mục tiêu, yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa
học ở Tiểu học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trong những năm
học gần đây phương pháp “Bàn tay nặn bột” được đưa vào thử nghiệm trong dạy
học môn Khoa học ở các trường tiểu học tại Việt Nam. Việc nghiên cứu áp dụng
phương pháp này vào dạy học sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường
là vấn đề hết sức cần thiết góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Có như vậy
mới hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp các em thực sự
trở thành “chủ thể” tìm kiếm tri thức.
 Khoa học là môn học chiếm vị trí quan trọng ở bậc tiểu học. Mục tiêu của
môn Khoa học lớp 4 là giúp học sinh có một số kiến thức cơ bản ban đầu về sự
trao đổi chất ở người, động vật, thực vật, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ
thể người. Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm, ứng
dụng của một số chất, một số vật liệu dạng năng lượng thường gặp trong đời sống
và sản xuất. Bước đầu hình thành và phát triển cho các em những kĩ năng cần thiết
như quan sát và làm thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống
sàn xuất. Phát triển Năng lực giao tiếp, cộng tác, chia sẻ, mạnh dạn, tự tin nêu thắc
mắc và đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp. Biết diễn
đạt những biểu cảm bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, phân tích so sánh rút ra
những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự
nhiên. Qua đó hình thành và phát triển những Phẩm chất như thái độ, hành vi ham
hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống, yêu 5
con người, yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường
xung quanh.
 Môn Khoa học ở lớp 4 được xây dựng trên cở sở nối tiếp những kiến thức về
Tự nhiên và Xã hội các lớp 1,2,3. Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm
mở rộng và nâng cao theo các chủ đề. Nội dung kiến thức tích hợp các nội dung
của các khoa học tự nhiên với khoa học về sức khỏe. Những nội dung được lựa
chon thiết thực gần gũi và có ý nghĩa đối với học sinh, giúp các em có thể vận
dụng những kiến thức khoa học vào đời sống hàng ngày. Chương trình cũng đã chú
trọng tới sự hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập môn Khoa học thực
nghiệm như: quan sát, thí nghiệm, phán đoán, giải thích các sự vật hiện tượng
trong tự nhiên và kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống. Tăng cường
tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích
cực, tự lực, tìm tòi và phát hiện ra kiến thức.
 Tên các bài học trong sách giáo khoa thường được trình bày dưới dạng một
câu hỏi, lúc hoàn thành bài học cũng là lúc học sinh tìm được câu trả lời cho câu
hỏi. Điều này rất phù hợp với phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Hơn thế nữa, ở lứa
tuổi học sinh tiểu học, thế giới tự nhiên đối với các em chứa đựng bao điều bí ẩn.
Sự tác động của nó hàng ngày qua mắt các em làm cho các em lạ lẫm, khiến các
em tò mò, muốn khám phá để hiểu biết chúng. Các em không bằng lòng với việc
quan sát mà còn thao tác trực tiếp để hiểu chúng hơn. Các em rất sung sướng khi
phát hiện ra một điều gì đó mới lạ liên quan đến thực tế. Điều đó thể hiện rõ trên
vẻ mặt hào hứng, vui tươi khi học bài, khi kết thúc tiết học. Chính trí tò mò, ham
hiểu biết khoa học là động cơ thúc đẩy các em học tập một cách tích cực. Sự hứng
thú sẽ làm nảy sinh khát vọng, lòng ham mê hoạt động và hoạt động sáng tạo. Điều
này sẽ thúc đẩy động cơ học tập (động cơ bên trong) của học sinh.
 Qua phân tích những đặc điểm trên, tôi nhận thấy Khoa học là môn học rất
thuận lợi để giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và đưa các phương pháp dạy
học tích cực vào giảng dạy đặc biệt là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Việc đưa
phương pháp này vào giảng dạy trong môn Khoa học trong trường tiểu học là hoàn
toàn hợp lí. Hướng đổi mới này không những nâng cao chất lượng dạy và học mà
còn phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con
người mới giai đoạn hiện nay. Điều thật đáng mừng là trong năm học này phương
pháp “Bàn tay nặn bột” tiếp tục được áp dụng và nhân rộng ra các khối lớp trong
các nhà trường. Tôi rất mong phương pháp “Bàn tay nặn bột” trở thành phương
pháp dạy học quen thuộc trong các nhà trường tiểu học hiện nay.
 2. Thực trạng.
 a. Đối với giáo viên.
 Mỗi cán bộ giáo viên đã nhận thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn, các
phong trào thi đua của ngành như phong trào thi đua “Mỗi thầy cô giáo là một tấm
gương tự học và sáng tạo”, phong tào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực”...và đã nhiệt tình, hết lòng cùng học sinh thực hiện.
 Đội ngũ giáo viên đã được tập huấn về phương pháp “Bàn tay nặn bột” và có 6
nhiều cố gắng trong việc trao đổi, học hỏi, tự bồi dưỡng cũng như trong việc đổi
mới các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
 Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, việc áp dụng phương pháp “Bàn
tay nặn bột” vào dạy môn Khoa học lớp 4 còn có những hạn chế nhất định, làm
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học môn này.
 + Phương pháp Bàn tay nặn bột đòi hỏi phải có nhiều thời gian đối với mỗi
tiết học chứ không chỉ với thời gian hạn chế 35 - 40 phút/tiết học như quy định
hiện nay.
 + Để thực hiện phương pháp này, người giáo viên phải có kiến thức khoa
học tự nhiên vững vàng và khả năng linh hoạt để ứng phó với mọi tình huống bất
ngờ xảy ra trong tiết học. Hai điều này không phải giáo viên tiểu học nào cũng có
được.
 +Việc chuẩn bị bài dạy theo phương pháp này còn tốn nhiều thời gian:
nghiên cứu, soạn bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học, đồ dùng cho học sinh. Trang thiết
bị chưa đáp ứng được cho việc dạy học theo phương pháp này, chưa có phòng thí
nghiệm.
 b. Đối với học sinh.
 + Về phía HS, các em phải có vốn kiến thức thực tế phong phú, phải chủ
động học tập, phải năng động, sáng tạo.
 Qua thực tế giảng dạy, quan sát, dự giờ tôi thấy các em đều biết làm việc tập
 thể, hợp tác, trao đổi, chia sẻ ý kiến cá nhân, chia sẻ đa chiều, biết làm một số thí
nghiệm đơn giản. Tuy nhiên các em còn lúng túng, rụt rè, nhút nhát trong bước bộc
lộ quan điểm ban đầu, khó khăn trong việc đề xuất câu hỏi. Nhiều học sinh đặt câu
hỏi nêu vấn đề còn chung chung, chưa bám vào nội dung bài học. Trong việc thu
thập kết quả và ghi chép lại cũng gặp không ít khó khăn. Các em không tự chủ
trong việc tìm kiếm tri thức nên không gây được hứng thú trong học tập. Các em ít
tò mò, ít đặt câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật
hiện tượng mà các em được tìm hiểu. Sự lập luận còn kém, các kĩ năng kĩ xảo còn
vụng về, lúng túng. Việc vận dụng các kiến thức mà các em thu thâp được vào thực
tiễn còn quá xa, bởi vì các em thiếu kĩ năng thực hành. Các em chưa có thói quen
ghi chép lại những gì mà các em quan sát được. Việc xác lập mục đích quan sát và
mục đích của thí nghiệm còn kém.
 Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát
thực trạng việc học môn Khoa hoch của học sinh lớp 4B trường Tiểu học thị trấn
Tân An để đánh giá chất lượng ban đầu của lớp làm cơ sở để khảo sát thực nghiệm
của Sáng kiến.
 Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kĩ
năng vận dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu
hỏi, vận dụng thực tế. 7
 Kết quả khảo sát đầu năm như sau:
 TSHS HS hoàn thành HS chưa hoàn thành
 29 17 58,62% 12 41,38%
 TS HS biết vận HS chưa biết HS chưa
 HS mạnh dạn
 HS dụng vận dụng mạnh dạn
 TS TL TS TS TL TL TS TL
 29
 16 55,17% 13 44,83% 10 34,48% 19 65.52%
 * Nguyên nhân có kết quả trên là do còn một số em chưa quen với phương
pháp này, các em còn lúng túng, rụt rè, nhút nhát trong bước bộc lộ quan điểm ban
đầu, khó khăn trong việc đề xuất câu hỏi, trong việc thu thập kết quả và ghi chép
lại. Các em không tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên không gây được hứng
thú trong học tập, thờ ơ với việc học. Các em ít tò mò, ít đặt câu hỏi thắc mắc và
hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm
hiểu, sự lập luận còn kém, các kĩ năng kĩ xảo còn vụng về, lúng túng. Việc vận
dụng các kiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn còn quá xa.
 3. Đề xuất các giải pháp tiến hành.
 Để vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào giảng dạy môn Khoa học
được hiệu quả tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:
 3.1. Trước hết giáo viên phải nghiên cứu kĩ để hiểu và nắm chắc mục
tiêu, chương trình môn Khoa học lớp 4.
 Sau khi học song môn Khoa học lớp 4 học sinh cần đạt được một số kiến
thức cơ bản, ban đầu và thiết thực, một số kĩ năng, thái độ và hành vi:
 a. Mục tiêu:
 * Một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực.
 Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người, cách
phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm. Sự trao đổi chất, sự
sinh sản của thực vật, động vật, ứng dụng của một số chất, một số vật liệu dạng
năng lượng thường gặp trong đời sôngs và sản xuất.
 * Một số kĩ năng ban đầu.
 - Ứng xử thích hợp trong một số tình huống.
 - Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành.
 - Nêu thắc mắc, biết tìm thông tin để giải đáp, biết diễn đạt những hiểu biết.
 - Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng.
 * Một số thái độ hành vi.
 - Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh an toàn.
 - Ham hiểu biết khoa học, có ý thức tự vận dụng những kiến thức đã học vào
cuộc sống. 8
 - Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp. Có ý thức và hành động
bảo vệ môi trường xung quanh.
 b. Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4.
 * Chương trình môn Khoa học lớp 4 gồm 3 chủ đề
 - Chủ đề: Con người và sức khoẻ (Trao đổi chất ở người, Dinh dưỡng,
Phòng bệnh, An toàn trong cuộc sống)
 - Chủ đề: Vật chất và năng lượng (Nước,Không khí, Âm thanh, Ánh sáng,
Nhiệt)
 - Chủ đề: Thực vật và động vật (Trao đổi chất ở thực vật,Trao đổi chất ở
động vật, Chuỗi thức ăn trong tự nhiên)
 c. Các bài Khoa học lớp 4 có thể áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Tiết
 Mức độ sử
theo Tên bài học Đồ dùng dạy học tối thiểu cần có
 dụng PPBTNB
PPCT
 Trao đổi chấtNhững thứ con
 người nhận và Sơ đồ sự trao đổi chất giữa cơ thể người
Tiết 2 ở người (t1)
 thải ra môi với môi trường.
 trường
 Những thứ con Tranh về các cơ quan tham gia quá trình
 Trao đổi chấtngười nhận và trao đổi chất (trang 8- sgk). Sơ đồ mối
Tiết 3
 ở người (t2) thải ra môi liên hệ giữa các cơ quan trong quá trình
 trường trao đổi chất
 Cốc, thìa, một số dụng cụ đựng nước có
 Nước có tính
Tiết 20 Cả bài hình dạng khác nhau, tấm kính, khăn
 chất gì?
 bông, khay đựng nước, muối, đường, cát.
 Ba thể của Đá lạnh, muối, nước lọc, nước sôi, ống
Tiết 21 Cả bài
 nước nghiệm, cốc, đĩa, nhiệt kế
 Mây được
 hình thành Tranh SGK (Không có phần ghi chú dưới
Tiết 22 như thế nào? Cả bài tranh), tranh bầu trời có mây đen và mưa,
 Mưa từ đâu tài liệu nói về sự hình thành mây, mưa.
 ra?
 Sơ đồ vòng
 tuần hoàn của Tranh phóng to trang 48, sơ đồ vòng tuần
Tiết 23 HĐ1và HĐ3
 nước trong hoàn của nước (không có phần chú thích)
 TN
 Nước bị ô Thế nào là nước
Tiết 25 Kính hiển vi, chai đựng nước, bông, phễu
 nhiễm bị ô nhiễm
 Một số cách Nước đục, một số chai nhựa trong, giấy
Tiết 27 HĐ1 và HĐ2
 làm sạch lọc, cát, than bột. 9
 nước
 Làm thế nào
 Túi ni lông, chai rỗng, miếng bọt biển,
Tiết 30 để biết có Cả bài
 chậu đựng nước, quả địa cầu.
 không khí?
 Không khí có Cốc thủy tinh rỗng, thìa, bóng bóng có
Tiết 31 những tính Cả bài hình dạng khác nhau, bơm tiêm, quả
 chất gì? bóng.
 Không khí
 Lọ thủy tinh, nến, đế kê lọ, nước vôi
Tiết 32 gồm những Cả bài
 trong, chậu thủy tinh.
 TP nào?
 Không khí
Tiết 35 cần cho sự Cả bài Lọ thủy tinh, nến, đế của lọ thủy tinh.
 cháy
 Không khí Lọ thủy tinh, một con dế, hai cây nhỏ
Tiết 36 cần cho sự Cả bài trồng trong chậu, dụng cụ để bơm không
 sống khí vào bể cá.
 Tại sao cóSự chuyển động
Tiết 37 Chong chóng, hộp đối lưu
 gió? của không khí
Tiết 41 Âm thanh Cả bài Ống bơ, thước kẻ, sỏi, trống, dùi nhỏ.
 Âm thanh
 Sự lan truyền Trống, dùi nhỏ, bao bóng, điện thoại, lọ
Tiết 42 truyền qua một
 âm thanh thủy tinh đựng nước, vụn gấy
 số chất
 Đèn bin, tấm bìa, hộp đen, ni lông, tấm
Tiết 45 Ánh sáng Cả bài
 gỗ,
 Đèn bin, vỏ hộp bằng sắt, cốc thủy tinh,
Tiết 46 Bóng tối Cả bài
 quyển sách.
 Ánh sáng cần
Tiết 47 HĐ4 Tranh phóng to trang 94, 95 (sgk)
 cho sự sống
 Cốc thủy tinh, nước sôi, nước nguội, nước
Tiết Nóng lạnh và
 Cả bài đá, nhiệt kế đo nhiệt độ cơ thể, nhiệt kế đo
50+51 nhiệt độ
 nhiệt độ không khí, chậu đựng nước.
 Vật dẫn nhiệt
 Cốc, thìa, xoong, giấy báo, nhiệt kế, nước
Tiết 52 và vật cách Cả bài
 nóng .
 nhiệt
 Ôn tập: Vật
 Tiết Tranh trang 111- sgk, cốc thủy tinh, nước
 chất và năng HĐ2,3
55+56 lạnh, khăn bông.
 lượng
 Thực vật cần
Tiết 57 Cả bài Các tranh ở trang 114, 115 (sgk)
 gì để sống?
 Nhu cầu Quá trình hô
Tiết 60 không khí của hấp và quang Các tranh ở trang 120, 121 (sgk)
 thực vật hợp của cây 10
 Các chất thực
 Trao đổi chất Tranh vẽ trang 122 (sgk), sơ đồ về sự trao
Tiết 61 vật lấy và thải
 ở thực vật đổi khí, trao đổi thức ăn ở thực vật
 ra môi trường
 Những yếu tố Một số hộp bằng nhựa hay bằng kính, một
 Động vật cần
Tiết 62 cần cho sự sống số con chuột còn sống, nước, thức ăn của
 gì để sống?
 của động vật chuột, đĩa, bìa, đắp đậy hộp.
 Các chất động
 Trao đổi chất Tranh trang 128 (sgk), Sơ đồ trao đổi chất
Tiết 64 vật lấy và thải
 ở động vật ở động vật.
 ra môi trường
 3.2. Giáo viên cần phải hiểu sâu khái niệm về phương pháp “Bàn tay
nặn bột”
 Theo Gioerges Charpak thì: “Bàn tay nặn bột” vượt quá sự tách đôi truyền
thống giữa phương pháp và chương trình. Trong đó trẻ em hành động, thí nghiệm,
nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến
thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kĩ thuật.
 a. Giải thích về thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”
 “Bàn tay nặn bột” nói vậy để cho ngắn gọn nhưng thực ra, nó huy động cả
năm giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác và có cả khứu giác, vị giác. Để phát
triển trong các em sự tiếp xúc diệu kì với thế giới xung quanh, để các em học cách
khám phá và tìm hiểu nó.
 b. Ý nghĩa của thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”
 - Bàn tay: tượng trưng cho việc học sinh tự hành động, trực tiếp hành động.
 - Nặn bột: tượng trưng cho sản phẩm của chính các em trong hoạt động tự
tìm tòi, sáng tạo.
 - Lòng bàn tay tượng trưng cho trái đất tròn. Năm ngón tay tượng trưng cho
trẻ em ở năm châu lục khác nhau.
 Ý nói: Toàn trẻ em trên trái đất đều cùng nhau tham gia vào chương trình
học tiên tiến, thú vị này để xây dựng một trái đất đẹp trong tương lai.
 * Theo nhóm nghiên cứu: Khái niệm “Bàn tay nặn bột”:
 “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó, học sinh tiến
hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những giác quan để
nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả những suy nghĩ và kết quả
được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
 Hay nói cách khác: “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được tổ
chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học. Trên cơ sở vận dụng tất
cả các giác quan của mình, kinh nghiệm, tri thức cũ và tham gia làm thực nghiệm
khoa học.
 Như vậy phương pháp “Bàn tay nặn bột” đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc
lập, sáng tạo của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn.
Các em học tập nhờ hành động cuốn hút mình trong hoạt động. Các em sẽ tiến bộ
dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn, trình bày quan 11
điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ra môi
trường học tập tích cực.
 3.3. Giáo viên cần hiểu đúng bản chất của việc dạy- học theo phương
pháp “Bàn tay nặn bột”.
 Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” giúp các em có thể tiến hành
những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết. Nhưng các em cần được hướng dẫn và
giúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài đã
được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội”. Trong quá trình
nghiên cứu, học sinh phải sử dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thức mới. Các
em cần có vở ghi chép cá nhân để ghi lại những ý tưởng của mình, những điều đã
được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết tích của những thử nghiệm liên tiếp đánh
dấu được tiến trình nghiên cứu. Vở ghi chép được học sinh giữ suốt trong thời gian
học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một tập vở ghi nhớ đặc biệt.
Như vậy bản chất của “Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới cho phép
các em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lí
độc lập, có phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử
dụng giác quan và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ.
 Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng
những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không
quá tốn kém, đa số là các vận dụng dể kiếm và dễ sử dụng. Nó được sử dụng hằng
ngày với vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm
cũng hết sức đơn giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể
thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi các thông số: đất, nước, ánh
sáng, nhiệt độ, không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực hiện. Các
em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có những kết luận
khác nhau. Và trong quá trình ấy học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc như:
Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần yếu tố đất? Tại
sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, giấy, vải...? Như
vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây?...
 3.4. Một số đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
 - Mục tiêu hàng đầu của phương pháp là giúp học sinh tiếp cận dần các khái
niệm khoa học và kĩ thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt, trong
nói và viết.
 - Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đưa ra một tiến trình ưu tiên cho việc xây
dựng tri thức bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận.
 - Đó là thực hành khoa học bằng hành động hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm,
xây dựng một tập thể tốt và thu được kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự
nhiên và kĩ thuật.
 - Phương pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học.
Các em tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc tiến
hành các thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của 12
giáo viên. Học sinh học tập nhờ hành động. Các em học tập tiến bộ dần bằng cách
tự nghi vấn. Bạn bè trao đổi, sự cộng tác nhóm dưới hướng dẫn của giáo viên.
 Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra quan
điểm của mình về sự vật, hiện tượng. Đó là những hiểu biết ban đầu của học sinh.
Những hiểu biết này có thể đúng hoặc sai, hay chưa đầy đủ, đôi khi là sự ngây thơ,
ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ. Khi học sinh đưa ra
biểu tượng ban đầu của mình về vấn đề đặt ra, giáo viên không đưa ra lời nhận xét
đúng, sai mà để các em tự nhận thấy được trong quá trình kiểm tra giả thuyết.
 Bằng cách nắm chắc những đặc điểm trên của phương pháp “Bàn tay nặn
bột”. Trên thực tế giảng dạy tôi rất quan tâm đến việc học sinh hình thành khái
niệm về biểu tượng ban đầu của sự vật, hiện tượng trong hoạt động. Vì biểu tượng
ban đầu là điểm xuất phát, là nền tảng mà trên đó kiến thức sẽ được thành lập. Tôi
luôn để học sinh trình bày cá nhân và tôn trọng những quan điểm của học sinh dù
đúng hay sai. Với những học sinh còn nhút nhát, hạn chế về khả năng nhận thức tôi
đến tận nơi khuyến khích, động viên, nêu câu hỏi gợi mở để giúp các em mạng dạn
hơn, tự tin đưa ra được biểu tượng ban đầu của mình.
 Sau khi các em đã đưa ra được biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý
đồ dạy học tôi giúp học sinh phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa
các ý kiến, từ đó tôi hướng dẫn các em đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó.
 3.5. Một số nguyên tắc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào
quá trình dạy học.
 “Bàn tay nặn bột” có 10 nguyên tắc nhưng trong quá trình sử dụng phương
pháp này tôi đặc biệt chú trọng và luôn tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
 1. Quan sát: Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế
giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ tiến hành thực
nghiệm về chúng.
 Một số hình ảnh học sinh quan sát thực tế.
 2. Học: Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra ý kiến của
mình, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và các kết quả 13
đạt được trên cơ sở xây dựng kiến thức cho mình. Một hoạt động mà dựa trên sách
vở là không đủ.
 3. Các hoạt động đề ra: Tổ chức các hoạt động theo tiến trình sư phạm trong
các giờ học nhằm tạo ra sự tiến bộ dần trong học tập cho học sinh. Các hoạt động
này gắn với chương trình và giành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.
 4. Thời gian cho một đề tài: 2 tiết/ tuần có vận dụng phương pháp để tạo cho
các em sự thành thạo với cách học.
 5. Vở thí nghiêm: Mỗi học sinh có một quyển vở để ghi chép thí nghiệm và
các em trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình.
 Một số hình ảnh học sinh sử dụng vở thí nghiệm. 14
 6. Mục tiêu chính: Là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh về các khái niệm
khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và
viết.
 7. Kết hợp cùng gia đình: Chuẩn bị đồ dùng, hướng dẫn học sinh quan sát,
thực nghiệm ở nhà.
 8. Trao đổi với đồng nghiệp về kinh nghiệm, những thắc mắc của mình.
 3.6. Thực hiện tốt các kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho học sinh
trong Phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
 - Tổ chức lớp học.
 Thực hiện dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” có rất nhiều hoạt
động theo nhóm. Vì vậy, để tiện lợi cho việc tổ chức thảo luận, hoạt động nhóm thì
tôi đã sắp xếp lại bàn ghế của lớp theo nhóm cố định. Tôi bố trí bàn ghế, vật dụng
trong lớp phù hợp với hoạt động nhóm. Hai bàng ghép lại thành một nhóm, tôi đặc
biệt chú ý đến hướng ngồi của các em học sinh sao cho đảm bảo ánh sáng và tất cả
các em đều nhìn rõ thông tin trên bảng. Khoảng cách giữa các nhóm không quá
gần, tạo điều kiện đi lại dễ dàng cho học sinh khi cần di chuyển.
 Ngoài ra tôi còn tạo không khí lớp học vui vẻ, thoải mái, thích thú cho tất cả
các học sinh trong học tập. Đối xử công bằng, bình đẳng, không khen ngợi bất cứ
học sinh nào qua mức.
 - Giúp học sinh bộc lộ quan điểm ban đầu.
 Quan điểm ban đầu của học sinh thường là các quan niệm hay khái quát
chung về sự vật, hiện tượng, có thể sai hoặc chưa chính xác về mặt khoa học. Tôi
thường khuyến khích học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến của mình. Tôi chấp nhận
và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh, không có nhận xét đúng - sai sau
khi học sinh trình bày. Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch
với ý kiến đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh. Do đó,
ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện được.
 - Kĩ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh.
 Tổ chức hoạt động thảo luận của học sinh được thực hiện ở nhiều thời điểm
trong tiết học. Có hai hình thức thảo luận trong dạy học theo phương pháp “Bàn
tay nặn bột” mà tôi thường áp dụng là thảo luận nhóm nhỏ (trong nhóm làm việc)
và thảo luận nhóm lớn (toàn bộ lớp học). Thảo luận nhóm nhỏ tạo điều kiện cho tất
cả học sinh đều có cơ hội trình bày ý kiến của mình, được tiến hành sau khi giáo
viên chia nhóm và giao nhiệm vụ; còn thảo luận theo nhóm lớn có thể được tổ
chức sau khi thực hiện thảo luận theo nhóm nhỏ, các nhóm cử đại diện của nhóm
trình bày ý kiến. Trong thảo luận, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, giúp các em
tìm thấy sự thống nhất ý kiến và khuyến khích học sinh thảo luận tích cực.
 - Kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm.
 Kĩ thuật hoạt động nhóm được thực hiện ở nhiều phương pháp dạy học khác,
không phải một dặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Tuy nhiên việc dạy
học theo trong phương pháp “Bàn tay nặn bột” hoạt động nhóm được chú trọng
nhiều và thông qua đó giúp học sinh làm quen với phong cách làm việc khoa học, 15
hợp tác với nhau giữa các cá nhân nhằm rèn luyện ngôn ngữ nói, viết, và ngôn ngữ
cơ thể cho học sinh. Vì vậy tôi thường tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm
4, không cố định nhóm trưởng và thư kí. Trong qua trình học sinh thảo luận theo
nhóm tôi thường di chuyển đến các nhóm, tranh thủ quan sát hoạt động của các
nhóm cũng như bao quat lớp, kịp thời sử lí những tình huống sảy ra trong các
nhóm của học sinh, nhằm giúp các nhóm có kết quả hoạt động tốt nhất.
 - Kĩ thuật đặt câu hỏi của giáo viên.
 Trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Câu hỏi của giáo viên
đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của phương pháp và thực hiện ý đồ
dạy học. Câu hỏi tốt có thể giúp cho học sinh xác định rõ phần trả lời của mình và
làm tiến trình dạy học đi đúng hướng. Trong dạy học tôi thường sử dụng câu hỏi
“mở” để nêu vấn đề và câu hỏi gợi ý. Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học
hay môđun kiến thức. Các câu hỏi gợi ý được tôi đặt ra và sử dụng trong qua trình
làm việc với học sinh thường có các cụm từ như “Theo các em ”, “Em nghĩ gì ”,
Theo ý em ” nhằm gợi ý, định hướng cho các em rõ hơn hoặc kích thích một
“hành động mở”, suy nghĩ mới của học sinh. Sau khi đặt câu hỏi bao giờ tôi cũng
dành ít thời gian cho học sinh suy nghĩ. Với câu hỏi gợi ý tôi thường đặt câu hỏi
ngắn, yêu cầu trong một phạm vi hẹp mà mình muốn gợi ý cho học sinh. Nếu gợi ý
cho một nhóm khi học sinh đang thảo luận thì chỉ nói với âm lượng vừa đủ cho
nhóm này nghe.
 - Rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh.
 Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là sự hòa quyện 3 phần gần
như tương đương nhau đó là thí nghiệm, nói và viết. Học sinh không thể làm thí
nghiệm mà không suy nghĩ và các em thể hiện suy nghĩ bằng cách thảo luận (nói)
hoặc viết. Mặc dù phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học
dựa trên thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, nhưng ngoài việc làm thí nghiệm, khám
phá kiến thức, học sinh cần được chú ý rèn luyện ngôn ngữ nói và viết. Đây là đặc
điểm quan trọng của phương pháp và cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong dạy
học ở bậc Tiểu học. Chính vì vậy tôi rất quan tâm đến vấn đề rèn luyện ngôn ngữ
cho học sinh qua hai mảng chính đó là rèn luyện ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Tôi đề ra một yêu cầu bắt buộc cho cả lớp về nguyên tắc này. Thông qua các hoạt
động trong tiết học, học sinh bắt buộc phải nghi chép (viết, vẽ...), trao đổi, chia sẻ
ý kiến của mình, của bạn. Để rèn ngôn ngữ nói và viết cho học sinh tôi kiểm soát
lời nói, cấu chúc câu, chính xác hóa từng từ vựng của học sinh. Nhằm giúp học
sinh kết hợp thuần thục sự thể hiện ngôn ngữ và suy nghĩ. Học sinh suy nghĩ một
cách lôgic các sự vật, hiện tượng sẽ thể hiện qua việc trình bày các ý tưởng một
cách lôgic, hợp lý và ngược lại. Tôi tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc trao đổi và
những cuộc tiếp xúc tập thể mà ở đó học sinh có thể thảo luận với nhau dễ dàng.
 - Kĩ thuật chọn ý tưởng, nhóm ý tưởng của học sinh.
 Trong các tiết học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” tôi thường nhanh
chóng nắm bắt ý kiến phát biểu của từng học sinh và phân loại các ý tưởng đó để
thực hiện ý đồ dạy học. Ý kiến phát biểu của học sinh thường rất đa dạng, đặc biệt
là đối với các kiến thức phức tạp. Để thuần thục trong việc chọn ý tưởng và nhóm 16
ý tưởng của học sinh thì tôi cần phải rèn luyện nhiều qua các tiết dạy để nâng cao
kỹ năng sư phạm của bản thân.
 + Đối với những ý tưởng phức tạp hay có nhiều ý kiến khác biệt, tôi thường
ghi chú lại ở một góc trên bảng để học sinh dễ theo dõi. Khi ghi chú những ý kiến
nào cùng chung ý thì viết gần nhau để tiện cho việc nhận xét của học sinh.
 + Đối với những biểu tượng ban đầu được học sinh trình bày bằng hình vẽ,
sơ đồ thì tôi quan sát và chọn một số hình vẽ tiêu biểu, có những điểm sai lệch
nhau rõ rệt để dán lên bảng, giúp học sinh dễ so sánh, nhận xét. Để tiến hành nhanh
và tránh mất thời gian, trong khi học sinh thực hiện lệnh (vẽ hình, sơ đồ ) tôi
tranh thủ di chuyển, bao quát lớp để tìm những ý tưởng tiêu biểu.
 - Hướng dẫn học sinh đề xuất thí nghiệm nghiên cứu, hay phương án tìm câu
trả lời.
 Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời của
học sinh cũng là một bước khá phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng sư
phạm để điều khiển tiết học, tránh để học sinh đi quá xa yêu cầu nội dung của bài
học. Tùy từng trường hợp cụ thể mà giáo viên có phương pháp phù hợp, tuy nhiên
tôi đặc biệt chú ý mấy điểm sau:
 + Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra đơn giản, ít phương án hay thí nghiệm
chứng minh thì tôi có thể cho học sinh trả lời trực tiếp phương án mà học sinh đề
xuất. Ví dụ: Để tìm hiểu thành phần của không khí tôi dự kiến học sinh có thể yêu
cầu quan sát thực tế, làm thí nghiệm hoặc đề xuất xem tranh vẽ khoa học để trả lời
cho câu hỏi về thành phần của không khí.
 + Đối với các kiến thức phức tạp, thí nghiệm cần thực hiện để kiểm chứng,
học sinh khó đề xuất đầy đủ và chuẩn xác, tôi có thể chuẩn bị một loạt các vật
dụng liên quan đến việc làm thí nghiệm (không dùng để làm thí nghiệm) sau đó
yêu cầu các nhóm lên lấy các đồ dùng cần thiết để làm thí nghiệm chứng minh.
Như vậy học sinh sẽ phải suy nghĩ để tìm những vật liệu hợp lý cho ý tuởng thí
nghiệm của mình. Tôi cũng chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống học sinh không nêu
được phương án tìm câu trả lời hoặc các phương án đưa ra quá ít, nghèo nàn về ý
tưởng (đối với những trường hợp có nhiều phương án tìm câu trả lời). Giả sử lớp
học mà học sinh quá nhút nhát, thụ động, nghèo ý tưởng, hoặc không đưa ra được
phương án nào để tìm câu trả lời thì tôi đã giải quyết tình huống này bằng cách đưa
ra 2 hoặc 3 phương án khác nhau cho học sinh nhận xét. Gợi ý, dẫn dắt bằng các
câu hỏi nhỏ để học sinh tìm được phương án tối ưu. Đây là cách giải quyết đối với
những kiến thức không phải làm thí nghiệm trực tiếp.
 - Hướng dẫn học sinh sử dụng vở thực hành.
 Vở thí nghiệm thực chất là một cuốn vở của học sinh được sử dụng để ghi
chép cá nhân về biểu tượng ban đầu; ghi chép nội dung, cách làm, kết quả thí
nghiệm trong khi thực hiện tìm tòi - nghiên cứu. Hay còn được hiểu như là "cuốn
vở nháp cẩn thận" của học sinh để ghi chú trong quá trình học ở lớp, làm thí
nghiệm theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
 Vở thí nghiệm không phải là vở nháp cũng không phải là vở ghi chép thông 17
thường của học sinh. Vở thí nghiệm không phải là cuốn vở để giáo viên dùng để
sửa lỗi của học sinh mà nhằm mục đích chính là để học sinh tự do diễn đạt suy
nghĩ, ý kiến của mình thông qua ngôn ngữ viết nên tôi khuyến khích học sinh tự
ghi chép dù là mức độ đơn giản của bậc tiểu học. Tôi chỉ hướng dẫn học sinh cách
sử dụng vở thí nghiệm cho đúng mục đích học.
 - Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát được nghiên
cứu để đưa ra kết luận.
 Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu:
Khi làm thí nghiệm hay quan sát hoặc nghiên cứu tài liệu để tìm ra câu trả lời, tôi
thường hướng dẫn học sinh biết chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận
tương ứng với câu hỏi. Ví dụ, đối với các thí nghiệm cần quan sát một số hiện
tượng để rút ra kết luận, tôi cho học sinh chú ý vào các hiện tượng để lấy thông tin,
nhắc nhở học sinh bám vào mục đích thí nghiệm để làm gì, trả lời câu hỏi nào...
Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, tôi yêu cầu học sinh ghi chép lại các
số liệu để từ đó rút ra nhận xét. Tôi chuẩn bị mẫu ghi chú kết quả thí nghiệm và
phát cho học sinh lúc bắt đầu làm thí nghiệm.
 - So sánh, đối chiếu kết quả thu nhận được với kiến thức khoa học.
 Trong hoạt động học của học sinh theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” học
sinh khám phá các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên theo con đường mô
phỏng gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học. Học
sinh đưa ra dự đoán, thực hiện thí nghiệm, thảo luận với nhau và đưa ra kết luận
như công việc của các nhà khoa học thực thụ để xây dựng kiến thức. Nhưng các
kiến thức của học sinh không phải là các kiến thức khoa học mới với nhân loại mà
chỉ là mới với vốn kiến thức của học sinh. Các kiến thức này cũng được trình bày ở
nhiều sách, tài liệu khoa học khác ngoài sách giáo khoa. Do vậy, ngoài việc hướng
dẫn học sinh hình thành kiến thức, tôi đã giới thiệu thêm sách, tài liệu hay thông
tin trên internet mà học sinh có thể có điều kiện tiếp cận được để giúp các em hiểu
sâu hơn các kiến thức được học, không bằng lòng và dừng lại với những hiểu biết
yêu cầu trong chương trình. Điều này rất cần thiết đối với các học sinh khá, giỏi,
học sinh ham thích tìm hiểu. Tất nhiên, tôi phải lựa chọn tài liệu đơn giản, dễ hiểu,
phù hợp cho học sinh tham khảo.
 - Đánh giá học sinh trong dạy học.
 + Đánh giá học sinh trong dạy học theo phương pháp BTNB là một vấn đề
khá mới mẻ trong việc áp dụng phương pháp BTNB vào chương trình tiểu học tại
Việt Nam. Tôi đánh giá học sinh qua quá trình thảo luận, trình bày, phát biểu ý
kiến tại lớp học: Trong các tiết học theo phương pháp BTNB, học sinh được
khuyến khích phát biểu ý kiến và trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hay trước toàn
thể lớp học. Trong một số trường hợp tôi không nhận xét tính chính xác ý kiến của
học sinh (ví dụ như khi hỏi học sinh ý kiến ban đầu), đề xuất câu hỏi, phương án
thí nghiệm Nhưng tôi khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến bằng cách ghi chú
lại số lần phát biểu ý kiến và tính chính xác cũng như sự tiến bộ của học sinh trong
một tiết học hay một số tiết học nhất định.
 + Đánh giá học sinh trong quá trình làm thí nghiệm: Sự tích cực, năng động, 18
tinh thần trách nhiệm, tính nghiêm túc trong học tập và thực hiện các hoạt động
học được yêu cầu bởi giáo viên.
 + Đánh giá học sinh thông qua sự tiến bộ nhận thức của học sinh trong việc
thí nghiệm: Tôi quan sát trong quá trình học sinh ghi chép ở lớp hoặc thu vở thí
nghiệm 1 lần/tháng (vào cuối tháng) hay cuối kỳ học để xem sự tiến bộ của học
sinh.
 Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột” việc đánh giá của tôi theo hướng
kiểm tra kỹ năng, kiểm tra năng lực nhận thức (sự hiểu) hơn là kiểm tra độ ghi nhớ
kiến thức của học sinh.
 3.7. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”trong dạy
học.
 - Trong quá trình học sinh thực hành, tôi phải khéo léo theo dõi, quan sát
học sinh xem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình.
Nếu có gì không khớp với dự định ban đầu thì tôi điều chỉnh cho phù hợp.
 - Các biểu tượng học sinh đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng tôi không
đánh giá và cũng không đưa ra câu trả lời. Tôi chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu
hỏi dẫn dắt học sinh tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm
thay.
 Ví dụ: Tôi hỏi: “Theo em, nó sẽ như thế nào? Em nghĩ (làm) thử xem? Em
tìm cách nào đó để xem có đúng không?...” Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả
vẫn đục tôi chỉ gợi ý “Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không?
Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em...” Trong trường hợp thí nghiệm
cần đến các điều kiện tôi giúp các em xác định được điều kiện của thí nghiệm.
 Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ... Điều này bước đầu học sinh
có thể gặp khó khăn nhưng thức hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trong việc đặt
điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao.
 * Tình huống xuất pháp từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
 - Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài
học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng
giải quyết.
 - Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các
em suy nghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết.
 - Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dể hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái
niệm mà các em chưa biết. Nếu có tôi sẽ tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa
đảm bảo học sinh hiểu được vừa vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó.
 - Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình
cần phải làm gì.
 - Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với
phương pháp “Bàn tay nặn bột” nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá Kiến thức- Kĩ
năng thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về Năng lực và Phẩm chất, như
năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kĩ năng làm 19
thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt trong khi nói và viết, sự hứng thú
tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học... Tất cả những
điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự
cân đối ở các em giữa kiến thức và kĩ năng, giữa năng lực và phẩm chất, giữa lí
thuyết và thực hành.
 - Không chia nhóm học sinh quá đông, mỗi nhóm từ 2,4 đến 6 em và từ hai
bàn ghép lại.
 - Không nên cho học sinh biết trước của bài học một cách tiêu cực mà phải
để cho các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để
trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho học sinh có thói quen ỷ
lại không chịu suy nghĩ, tìm tòi tromg học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử
dụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của học sinh ở cuối tiết học.
 - Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài
học ở để bài).
 - Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp “Bàn tay nặn bột” để áp
dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng phải áp dụng phương pháp này.
 Đó là những lưu ý đối với giáo viên khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
vào giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn
học này và đạt hiệu quả hơn.
 3.8. Quy trình chung khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong
dạy Khoa học ở Tiểu học.
 Tôi đã thực hiện theo các bước sau:
 Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
 - Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do tôi
chủ động đưa ra như là một cách hấp dẫn nhập vào bài học. Tình huốn phải ngắn
gọn, gần gũi,dễ hiểu đối với học sinh, nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.
 Ví dụ: - Khi dạy bài không khí gồm những thành phần nào?
Tôi nêu câu hỏi: Theo em không khí gồm những thành phần nào?
 - Khi dạy bài: Sự lan truyền của âm thanh. Tôi hỏi: Theo em âm thanh được
lan truyền như thế nào?
 - Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học, cần đảm bảo yêu cầu phù
hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi,
nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế của học sinh trước khi khám phá,
lĩnh hội kiến thức.
 Tôi dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được câu hỏi đóng (Trả lời có hoặc
không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.
 Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.
 Làm bộc quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các
câu hỏi hay giả thuyết của học sinh là bước quan trọng đặc trưng của phưong pháp
“Bàn tay nặn bột”. Trong bước này, tôi khuyến khích học sinh nêu suy nghĩ, nhận
thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học 20
được kiến thức đó. Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, tôi có thể
yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như có thể bằng lời nói (thông
qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ.
 Ví dụ: Khi dạy bài Không khí gồm những thành phần nào?
Học sinh trình bày quan điểm: (có thể có các ý kiến khác nhau) như: Không khí
gồm có ô-xi, ni-tơ; không khí gồm có bụi; không khí gồm có vi khuẩn; có hơi
nước...
 Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm.
 - Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biết và phong phú về biểu tượng ban đầu
của học sinh, tôi giúp học sinh đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó. Chú ý xoáy
sâu vào những từ khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài. Đây là một
bước khá khó khăn vì tôi cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu trong hàng
chục biểu tượng của học sinh 1 cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng
thời linh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất câu
hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học sau khi chọn lọc các biểu tượng ban
đầu của học sinh để ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ lên bảng
hoặc vẽ nhanh lên bảng, tôi đã khéo léo gợi ý cho học sinh so sánh các điểm giống
hoặc khác nhau của các biểu tượng ban đầu. Từ sự khác nhau cơ bản đó tôi giúp
học sinh đề xuất các câu hỏi. Sau khi giúp học sinh so sánh và gợi ý để học sinh
phân nhóm các ý kiến ban đầu. Tôi hướng dẫn học sinh đạt các câu hỏi nghi vấn.
 Ví dụ: Khi dạy bài Không khí gồm những thành phần nào?
Học sinh đặt câu hỏi: - Trong không khí có ô-xi và ni-tơ không?
 - Trong không khí có khí các-bô-nic không?
 - Trong không khí có bụi không? Trong không khí có khí độc và vi khuẩn
hay không?
 * Khi dạy bài sự lan truyền của âm thanh.
Học sinh đặt câu hỏi:
 - Âm thanh có truyền qua được không khí không?
 - Âm thanh có truyền qua chất lỏng không?
 - Âm thanh có truyền qua được chất rắn không?
 - Âm thanh yếu đi hay mạnh lên khi khoảng cách đến nguồn âm xa hơn?
 - Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu.
 Từ các câu hỏi được đề xuất, tôi nêu câu hỏi đề nghị các em đề xuất thực
nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể
là: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm được câu trả lời cho các câu hỏi
trên?”, “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà
lớp mình đặt ra?”...
 Sau khi học sinh đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, tôi
nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương pháp thí nghiệm đã chuẩn bị
sẵn.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_van_dung_phuong_pha.pdf