SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn sáng kiến Năm học 2019-2020 là năm học toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Là năm học tiếp tục thực hiện việc đổi mới đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư số 22/ 2016/TT-BGDĐT và Thông số 30/BGD- ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với đời sống xã hội luôn phát triển thì vai trò của người giáo viên Tiểu học là rất quan trọng. Muốn thực hiện tốt mục tiêu giáo dục góp phần đào tạo những con người linh hoạt, sáng tạo, năng động thi người giáo viên luôn phải đổi mới phương pháp dạy học các môn ở tiểu học nói chung và môn Toán nói riêng chính là dạy học theo quan điểm "Lấy học sinh làm trung tâm" theo hướng tích cực "Thầy thiết kế trò thi công” nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Huy động mọi khả năng của từng học sinh để học sinh tự khám phá những nội dung mới của bài học. Giúp đỡ học sinh có các điều kiện và phương tiện hoạt động để học sinh tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống; tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch và biết lựa chọn kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề Tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi học sinh, tạo cho học sinh có niềm tin và niềm vui trong học tập kết quả của cách dạy học tích cực không chỉ góp phần hình thành cho học sinh các kiến thức kỹ năng thái độ cần thiết mà còn xây dựng cho học sinh nhiệt tình với phương pháp học tập sáng tạo. Ở đây vai trò của người giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy Toán còn được đề cao hơn đó chính là giáo viên không còn đóng vai người truyền thụ kiến thức (chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải để học sinh thụ động nghe và ghi nhớ như trước đây) mà trở thành người tổ chức điều khiển quá trình dạy học để học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh những tri thức giáo viên giảng ít còn học sinh làm việc nhiều. Lao động của giáo viên dường như nhẹ nhàng, nhàn hạ hơn vì từ ngoài nhìn vào sẽ chỉ 2 thấy học sinh tích cực, tự giác học nhưng thực chất làm công việc hướng dẫn học sinh hoạt động để tự nắm lấy tri thức khó hơn nhiều so với việc giảng giải, thuyết trình vì nó đòi hỏi giáo viên phải lao động công phu hơn. Cụ thể là giáo viên phải chuẩn bị một kế hoạch dạy học sao cho tất cả học sinh đều được làm việc. Kế hoạch này chú ý đến sự phát triển của cá nhân, của nhóm học sinh trên cơ sở sự phát triển chung. Khi điều khiển hoạt động của lớp học, giáo viên cũng phải xử lý nhiều tình huống sư phạm phức tạp hơn so với dạy học theo kiểu cũ. Chính vì vậy mà tôi chọn “Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn toán 4”. 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến. Nghiên cứu sáng kiến nhằm mục đích khám phá tiếp cận tốt với tri thức khoa học phát huy tính tự chủ, sáng tạo của học sinh làm cơ sở cho các em có vốn kiến thức học lên lớp trên. Người giáo viên cần xác định đúng vai trò, vị trí, trách nhiệm của người làm công tác ''trồng người'' nhằm đem lại hiệu quả học tập cao nhất đối với học sinh. Tìm hiểu thực trạng chất lượng môn Toán lớp 4. Tìm ra nguyên nhân tích cực của thực trạng đó. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. 3. Đối tượng nghiên cứu. 1. Học sinh lớp 4 trường Tiểu học thị trấn Tân An. 2. Trao đổi phương pháp dạy học với giáo viên trong trường. 3. Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa,sách giáo viên toán 4 và sách toán nâng cao lớp 4. 4. Nghiên cứu nội dung phương pháp dạy toán lớp 4. Đối với đề tài này tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, lý luận đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu. 3 Điều tra quan sát, so sánh và thực nghiệm thông qua khảo sát chất lượng dự giờ. Tổ chức trao đổi với giáo viên hay đàm thoại đối với học sinh. Bước đầu tự đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm với đồng nghiệp và với chính bản thân mình. Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu chương trình toán lớp 4, tìm ra các giải pháp giúp học sinh học tốt các dạng toán lớp 4. Trang bị thêm vốn hiểu biết của bản thân về phương pháp dạy học tích cực trong các môn học nói chung và môn Toán lớp 4 nói riêng. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động học tập nâng cao chất lượng. Đảm bảo được kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩm chất nhà trường giao cho. 5. Phương pháp nghiên cứu. 1. Phương pháp vấn đáp, phản hồi. 2. Phương pháp phân tích thông tin, tài liệu. 3. Phương pháp lật lại vấn đề qua vấn đáp qua lại giữa giáo viên và HS. 4. Phương pháp tìm tòi khám phá. 5. Phương pháp khảo sát và thống kê. 6. Phương pháp tìm hiểu thực tiễn. 7. Phương pháp đàm thoại, thực nghiệm, trực quan, học nhóm và 1 số phương pháp khác. 4 PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan. Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp cấp trung học cơ sở. Đối với sự nghiệp giáo dục đặc biệt phải chú ý đến giáo dục tiểu học vì tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân nên việc chăm lo phát triển giao dục tiểu học là nên cần thiết và cấp bách. Trong các môn học trong trường tiểu học môn Toán chiếm một vị trí quan trọng đối với các em. Qua môn Toán sẽ giúp các em cách tính toán, cách tính nhẩm được trong thực tế hàng ngày. Chính vì tầm quan trọng đặc biệt của đổi mới phương pháp dạy học tôi đã chọn nghiên cứu phương pháp dạy phát huy tích cực của học sinh. Mong muốn nâng cao chất lượng môn toán lớp 4 ở bậc tiểu học để góp phần bé nhỏ của mình vào mục tiêu thực hiện tốt nâng cao chất lượng dạy-học. Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt người họ c toán cần có kĩ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao trong học tập. Mặt k hác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học các môn học khác cũng như nhậ n thức thế giới xung quanh và thực tiễn một cách có hiệu quả. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó là tiền đề để phát triển tư duy logic đồng thời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ để nh ận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp, d ự đoán, chứng minh. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luậ n, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần gi áo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người. Chính vì vậy, từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng môn học, đặc biệt là môn toán. 5 Qua việc dạy học toán ở các trường Tiểu học, nước ta đã có một quá trình cải tiến thường xuyên liên tục và vận dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể. Việc làm đó đã góp phần năng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học. Tuy nhiên, trong thực tế ở trường Tiểu học việc đổi mới phương pháp dạy học còn gặp nhiều trở ngại, vì thế chưa đáp ứng với mục tiêu mà Đảng đề ra cho ngành Giáo dục. Chủ yếu giáo viên chỉ truyền đạt theo tài liệu có sẵn thông qua phương pháp thuyết trình hoặc vấn đáp gợi mở để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Dẫn tới học sinh học tập một cách thụ động, không hứng thú, tích cực tự giác mà chỉ nghe giảng ghi nhớ và làm theo mẫu. Vậy chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Đây là vấn đề cần phải bàn và suy nghĩ. Thực hiện chương trình thay sách đòi hỏi phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Phương pháp dạy học tích cực trong học toán nói chung và môn toán lớp 4 nói riêng, đã được nhiều giáo viên quan tâm. Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy dạy học hướng tập trung vào học sinh trong lĩnh hội kiến thức học toán có những ưu điểm sau: + Giúp học sinh tiếp cận hay củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành một cách nhẹ nhàng tự nhiên, tạo tâm thế hào hứng khi tham gia các hoạt động học tập. + Phát huy tư duy nhanh nhạy óc sáng tạo, xử lí nhanh các tình huống khi tham hoạt động học tập. + Phát huy năng lực cá nhân, hoà nhập cộng đồng, nâng cao năng lực. Giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật, có tính đồng đội khi tham gia trò chơi. + Học sinh chủ động tham gia các các hoạt động, tích chia sẻ, cộng tác, hợp tác tự tiếp thu lĩnh hội kiến thức. 2. Thực trạng: Chương trình môn toán lớp 4 khá phức tạp, nặng hơn so với các khối lớp khác. Nếu ví chương trình toán tiểu học là một cái thang thì chương trình môn toán 4 là một bậc thang hơi dài hơn so với các bậc thang khác. Vậy làm sao để giúp học 6 sinh tiếp cận, hào hứng tham gia, nắm chắc được các kiến thức toán 4, đây là một vấn đề không hề đơn giản. Muốn nâng cao chất lượng môn Toán, mỗi cán bộ giáo viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm tinh thần học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn tiếp cận với phương pháp truyền thụ mới. Trong thực tế học sinh tiểu học rất yêu thích môn Toán vậy làm thế nào để các em dễ tiếp thu bài. Tôi đã vận dụng sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học, làm đồ dùng giảng dạy phục vụ cho bài giảng hấp dẫn sinh động hơn. Để đạt được kết quả tốt tôi luôn tìm tòi nghiên cứu bài dạy và tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn, đọc thêm các tài liệu tham khảo, học hỏi thêm đồng nghiệp để truyền thụ cho các em có được kiến thức vàng. 3. Đề xuất các giải pháp: a. Công tác chuẩn bị của giáo viên và học sinh. Khi tiến hành dạy từng môn, từng bài giáo viên cần nghiên cứu tài liệu, tham khảo sách giáo khoa. . . . để xác định mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ) cho đúng và phù hợp với 3 đối tượng của học sinh theo yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Lựa chọn phương pháp cách tổ chức tiến hành giờ dạy trên lớp bám sát quy trình đặc điểm của tiết dạy chuẩn bị đồ dùng thao tác thành thạo. Phân nhóm học tập (thảo luận nhóm) thay đổi thành viên trong nhóm đảm bảo các nhóm đều có cả 3 đối tượng học sinh. Cần chuẩn bị trước bài ở nhà căn cứ vào thời khoá biểu hàng ngày để các em chuẩn bị bài cho chu đáo. Hình thức chuẩn bị: Các em xem trước bài, chuẩn bị các phần chính cần thiết ghi ra giấy nháp (tất cả các học sinh đều phải chuẩn bị). Lập kế hoạch dạy học cả năm một cách cụ thể trong đó thực hiện kế hoạch rèn luyện cách tính toán giải toán cho học sinh. b. Biện pháp giảng dạy một số dạng bài trong môn toán lớp 4. 7 Trong công tác giảng dạy với lòng nhiệt tình, say mê nghề, sự tìm tòi phương pháp dạy học với tất cả các môn học và đặc biệt nhất là môn toán ở lớp 4 tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp dạy học để giúp học sinh chủ động, tích cực hoạt động tiếp thu kiến thức: * Tính chất cơ bản của phân số. Ví dụ: - Học sinh thảo luận câu hỏi theo phiếu học tập: PHIẾU HỌC TẬP + Em có nhận xét gì về hai băng giấy này? (bằng nhau). (Học sinh có thể chồng hai băng giấy lên nhau) + Hãy viết phân số chỉ phần tô màu của băng giấy 1, băng giấy 2. + So sánh 2 phân số. * Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4. - Học sinh trao đổi, thảo luận trong nhóm. - Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm. - Đại diện các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm khác nhận xét, bổ sung. 8 Cô và trò cùng trao đổi về phân số bằng nhau Học sinh chia sẻ kết quả: - Như vậy 1 băng giấy bằng 2 băng giấy tức là 1 = 2 2 4 2 4 Từ đó học sinh biết 1 và 2 là hai phân số bằng nhau. Lúc này, ta lại đặt ra câu 2 4 hỏi: Học sinh nói: 1 x 2 = 2 ; 2 x 2 = 4 và ngược lại 2 : 2 = 1 ; 4 : 2 = 2. * Học sinh rút ra được nhận xét: Khi nhân (hay chia) cả tử số và mẫu số của một phân số với một số tự nhiên khác 0, ta được một phân số mới bằng phân số đã cho. + Cho học sinh lấy ví dụ về phân số và tự tìm phân số bằng nhau với phân số đó. * Kinh nghiệm: - Băng giấy giáo viên đưa ra có độ chính xác cao và có màu sắc đẹp. 9 - Gv và học sinh cùng chuẩn bị băng giấy và cho học sinh cùng làm theo các bước trên. * Rút gọn phân số và quy đồng mẫu số các phân số: - Khi dạy phần này giáo viên vận dụng dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 3; 9 đã học để phát hiện các số chia hết cho 2; 3 hay nhiều số tự nhiên đã cho. - Khi rút gọn hay quy đồng mẫu số nhiều phân số, học sinh cần hiểu rõ thế nào là “Rút gọn phân số”, “phân số tối giản”, “Thế nào là quy đồng mẫu số và mẫu số chung của nhiều phân số”. VD1: GV nêu vấn đề: Từ phân số 10 hãy tìm phân số bằng phân số đó 15 nhưng có tử số và mẫu số nhỏ hơn. 10 = 10:5 = 2 15 15:5 3 - Cho học sinh nhận xét hai phân số 10 và 2. Phân số 10 đã rút gọn thành 15 3 15 phân số 2. Phân số 2 có còn rút gọn được nữa không? Vì sao? (Vì 2 và 3 không 3 3 cùng chia hết cho số tự nhiên nào lớn hơn 1, ta gọi 2 là phân số tối giản). 3 VD2: Quy đồng mẫu số hai phân số 1 và 2 . 3 5 GV gợi ý học sinh: Làm thế nào để tìm ra hai phân số có cùng mẫu số, trong đó một phân số bằng phân số 1 và một phân số bằng phân số 2. 3 5 - Dựa vào cách tìm phân số bằng nhau em hãy tìm hai phân số có chung mẫu số mà có một phân số bằng với phân số 1 và một phân số bằng với phân số 2 . 3 5 - Học sinh trao đổi với bạn để thấy được phải nhân cả tử số và mẫu số của phân số này với mẫu số của phân số kia. 10 1 = 1×5 = 5 ; 2 = 2×3 = 6 ; ( Hai phân số đều có mẫu số là 15) 3 3×5 15 5 5×3 15 * Kinh nghiệm : - GV giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề. GV tạo điều kiện cho học sinh trao đổi ý kiến với bạn. * So sánh phân số. Trường hợp 1: So sánh hai phân số cùng mẫu số. - Phương pháp hình ảnh trực quan (dùng đoạn thẳng hay hình tròn để diễn tả hai phân số) - Cho đoạn thẳng AB, chia đoạn thẳng AB thành 5 phần bằng nhau. - Học sinh quan sát nhận xét độ dài đoạn thẳng AC bằng 2 độ dài đoạn 5 thẳng AB. Độ dài đoạn thẳng AD bằng 3 độ dài đoạn thắng AB. Cho học sinh so 5 sánh độ dài đoạn thẳng AC và độ dài đoạn thẳng AD. - Từ đó nhận biết được 2 2 5 5 5 5 - Học sinh nhận xét mẫu số đó để nêu được cách so sánh hai phân số cùng mẫu số. Trường hợp 2: So sánh hai phân số khác mẫu số. - GV giúp học sinh tự phát hiện ra vấn đề của bài học. VD: So sánh hai phân số 2 và 3 3 4 GV gợi ý: Khi so sánh hai phân số có thể xảy ra 1 trong 3 trường hợp: + Hai phân số đó bằng nhau. + Phân số này bé hơn phân số kia. + Phân số này lớn hơn phân số kia. 11 GV cho học sinh nhận xét đặc điểm của hai phân số 2 và 3 để học sinh nhận 3 4 ra đó là hai phân số khác mẫu số, học sinh có thể trao đổi nhóm để giải quyết vấn đề. - Học sinh có thể dùng hình ảnh trực quan để so sánh hai phân số 2 và 3. 3 4 - Học sinh thấy được 2 băng giấy ngắn hơn 3 băng giấy. 3 4 - Hoặc học sinh có thể quy đồng mẫu số hai phân số 2 và 3. Rồi so sánh 2 3 4 phân số có cùng mẫu số. - Giáo viên nên gợi ý cách dùng kiến thức đã học để giải quyết bài toán không nên sử dụng mô hình sẽ gây khó khăn khi ta phải giải quyết nhiều bài toán khác nhau dạng như trên. * Kinh nghiệm : - GV nên đặt câu hỏi để học sinh tự tư duy giải quyết vấn đề và học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề nêu ra. HS biết lựa chọn phương pháp hợp lí. * Dạy cộng hai phân số: - Cộng hai phân số cùng mẫu số: + VD : 3 + 2 = ? 8 8 Về kĩ thuật làm như sau: Tường minh phân số 3 và 2 trên đồ vật (băng giấy) 8 8 3 2 8 8 + Dựa vào mô hình băng giấy thực hiện cộng hai phân số có cùng mẫu số. 12 3 + 2 = 3+2 = 5 8 8 8 8 + Rút ra qui tắc cộng hai phân số có cùng mẫu số. Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau bằng cách lấy tử số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu số. - Khi dạy thực hành luyện tập GV cần lưu ý giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình, bằng cách: - Cho các em làm các bài theo thứ tự trong sách giáo khoa, không bỏ bài nào, kể cả bài dễ, bài khó. - Không bắt học sinh chờ đợi nhau trong khi làm bài. Làm xong chuyển sang bài tiếp theo. - Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác. - Ví dụ: Khi dạy bài Ví dụ trong bài: “Phép cộng phân số ” (tiếp theo). 1 1 Bài toán: “Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy băng giấy, Bạn An lấy 2 3 băng giấy. Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phấn băng giấy màu? ” (Toán 4 trang 127). * Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4. - Học sinh trao đổi, thảo luận trong nhóm. - Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm. - Đại diện các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm khác nhận xét, bổ sung. 13 Học sinh chia sẻ kiến thức bài học Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số và rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh. Học sinh nêu được như sau: + Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện 1 1 phép cộng: + . 2 3 Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học sinh chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số). Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho thành hai phân số có cùng mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề kết hợp với phương pháp dạy học vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2 phân số khác mẫu số. 3.2. Dạy phép nhân, phép chia phân số 14 * Dạy về phép nhân hai phân số. Ví dụ trong bài: “Phép nhân phân số”. Hình thành phép tính nhân của 2 phân số 3 và 2 . Hình thành phép tính nhân của 2 phân số 3 và 2 cho học sinh là 4 5 4 5 một vấn đề mới. nếu giáo viên chỉ giới thiệu quy tắc tính sau đó áp dụng vào luyên tập thì không phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh. Do đó, giáo viên cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp để hướng dẫn học sinh tiếp thu tri thức mới một cách tích cực, sáng tạo. Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu hỏi sau: 3 2 - Hãy tính của ? 4 5 Đây là một tình huống mà học sinh chưa thể thực hiện được ngay. Nhưng nếu học sinh chịu khó suy nghĩ, vận dụng kiến thức đã học (cấu tạo phân số) hoặc giáo viên hướng dẫn thì học sinh có thể thực hiện được. Ở đây, giáo viên muốn học 3 2 sinh thực hiện câu hỏi trên để dẫn đến cách tính x . 4 5 2 - Hãy phân tích thành tổng của 4 phân số bằng nhau? 5 2 8 2 2 2 2 Ta có: = 2 4 = = + + + . 5 5 4 20 20 20 20 20 3 2 - Từ kết quả trên, hãy cho biết, của là bao nhiêu? 4 5 3 2 2 2 2 6 Ta có: của là + + = . 4 5 20 20 20 20 3 2 6 - Hãy so sánh 2 3 với kết quả của ? ( 2 3 = ). 4 5 4 5 4 5 20 3 2 6 Kết luận: Ta nói tích của với = . 4 5 20 3 2 3 2 6 Viết = = . 4 5 4 5 20 15 a c a c Giáo viên nêu công thức tổng quát: = và yêu cầu học sinh nêu b d b d quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố. * Dạy học phép chia phân số: - GV giới thiệu qui tắc chia hai phân số như (SGK) toán 4. GV nhắc nhở học sinh không thể chia cho số 0 tức là làm cho phân số dạng a, a là số tự nhiên 0 khác 0 và a tuỳ ý. Sau khi học sinh nắm được qui tắc như (SGK) đã nêu, giáo viên gợi cho học sinh quan sát biến đổi thương để thấy rằng qui tắc trên có thể diễn đạt dưới dạng: a : c = a × d = a×d b d b c b×c Cách diễn đạt này gợi ra quan hệ giữa phép nhân và phép chia. Sau khi học sinh hiểu bài, học sinh làm bài tập ứng dụng trên bảng con. Học sinh được chia sẻ trước lớp về kết quả của mình. Học sinh được chia sẻ nhiều chiều. * Kinh nghiệm : - Gv và học sinh sử dụng đồ dùng có hiệu quả. Chuẩn bị đồ dùng đầy đủ. Học sinh đưa ra nhiều cách giải quyết khác nhau để chọn cách hợp lí nhất. Ví dụ: Khi dạy bài: “Tính bằng cách thuận tiện nhất ”. 16 3 6 8 3 6 8 3 14 20 + + = + ( + ) = + = 5 10 10 5 10 10 5 10 10 Có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự của các phép tính trong biểu thức, ra kết quả đúng nhưng chưa nhanh và chưa hợp lí. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh các tính chất đã học của phép cộng để tìm ra cách giải thuận tiện. Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học sinh nhớ lại kiến thức đã học đó là: - Tính chất giao hoán của phép nhân. - Tính chất kết hợp của phép nhân. - Tính chất nhân một số với một tổng (hoặc một tổng nhân với một số). - Tính chất nhân một hiệu với một số (hoặc một số nhân với một hiệu). Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải toán: Khi nào vận dụng tính chất này, khi nào vận dụng tính chất kia: Ví dụ: 2 10 + 10 5 = 10 ( 2 + 5 ) = 10 10 = 20 (Áp dụng tính chất nhân một số với một tổng). * Đối với biện pháp dạy theo phương pháp tích cực thì 100% HS đều được trực tiếp tham gia hoạt động, giáo viên quan sát được những học sinh không thực hiện theo yêu cầu để kịp thời uốn nắn nhắc nhở. Vì vậy cách dạy này đạt kết quả cao hơn, khắc sâu vào trí nhớ các em hơn. Ví dụ bài: Diện tích hình thoi. - Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m, BD = n (hình a). - Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau: Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b). Ta có: Diện tích (hình thoi ABCD) = diện tích (hình chữ nhật AMNC) = m 17 Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c). Ta có: Diện tích (hình thoi ABCD) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) (Hình a) (Hình b) (Hình c). Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động dạy học. Tóm lại: Muốn cho việc dạy học tác động được tới 100% HS thì GV nên biến bài dạy của mình thành một hệ thống các công việc mà học sinh có thể thực hiện. Không khí lớp lớp học sôi nổi. * Ví dụ dạy về phân số ở lớp 4. Bài: Phép nhân phân số Phần xây dựng khái niệm mới III. HỌAT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU 18 Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh B. Bài mới: 1. Tìm hiểu ý nghĩa của phép nhân phân số thông qua tính diện tích hình chữ nhật - Tính diện tích hình CN có chiều dài - HS nêu yêu cầu và tính. là 5m, chiều rộng 3m. - HS nêu miệng S = 5 × 3 = 15(m2) - GV nêu VD và gợi ý VD: Tính diện tích hình chữ nhật có 4 2 chiều dài m và chiều rộng m . 5 3 - HS trả lời, HS quan sát. * Để tính diện tích hình CN đó ta - HS ngồi học nhóm 4, HS làm việc cá phải thực hiện phép tính nào? nhân, HS cộng tác nhóm, học sinh nêu - GV đưa hình vẽ đã chuẩn bị cách tính và viết phép tính . 2) Tìm quy tắc thực hiện phép nhân phân số - GV nêu câu hỏi - Hình vuông có diện tích là? 1m2 - HS trả lời. - Hình vuông đó được chia làm bao + (15 phần bằng nhau) nhiêu phần bằng nhau? Mỗi phần có 1 m2 diện tích là bao nhiêu? 15 - Diện tích hình chữ nhật (phần tô đậm) gồm bao nhiêu phần bằng nhau 19 đó? + (8 phần trong 15 phần ) - Vậy diện tích hình chữ nhật là bao 8 (m2) nhiêu m2? 15 8 HS quan sát nhận xét : Diện tích hình chữ nhật bằng m 2 15 8 (số phần của hình chữ nhật) bằng 4×2 Ta có: 4 × 2 = 8 ( m2 ) 15(số phần của hình vuông đượcchia ra) 5 3 15 bằng 5×3 * Quy tắc: Muốn nhân hai PS, ta lấy tử số nhân với tử số, mẫu số nhân với Vậy 4 × 2 = 4×2 = 8 5 3 5×3 15 mẫu số. - HS nêu qui tắc 5. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng: Qua nghiên cứu tôi ứng dụng kinh nghiệm vào giảng dạy toán ở lớp 4 trong năm học này tôi đã tiến hành thực nghiệm và kết quả thực tế lớp đạt được như sau: Tổng số Hoàn thành Chưa hoàn thành Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % 29 29 100 0 0 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Với những kinh nghiệm trên, tôi đã góp phần nâng cao chất lượng dạy, học các giờ học toán. Tôi đã tạo cho các em học sinh tìm thấy niềm say mê, sáng tạo qua mỗi tiết học. Những kinh nghiệm ấy đã giúp tôi cùng học sinh có được giờ học nhẹ nhàng thoải mái mà trong đó đã phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, học sinh học tập chủ động khi nắm bắt kiến thức, tư duy sâu, nhớ kiến thức lâu, rèn được rất nhiều kỹ năng trong đó có các kỹ năng sống như mạnh dạn, tự tin chia sẻ cùng bạn bè cùng học tập, giao tiếp mạnh dạn chủ động. Thông qua việc 20 vận dụng phương pháp dạy toán đã đúc rút cho mình nhiều kinh nghiệm bổ ích. Dù đã là một giáo viên giảng dạy lâu năm song cũng cần phải tự học tập, tự tìm tòi nhiều hơn nữa để thích ứng với nghề, làm sao tìm ra con đường truyền thụ kiến thức tới các em dễ dàng nhất và thích ứng với sự phát triển của đất nước. Sau khi tôi nghiên cứu đề tài của tôi, tôi áp dụng vào dạy học toán đặc biệt là toán lớp 4 mà tôi đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 4A, tôi nhận thấy học sinh học tập thoải mái, vui vẻ đến trường, không còn những giờ học toán căng thẳng và nhất là đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra định kỳ. Vậy sáng kiến kinh nghiệm của tôi áp dụng vào dạy học toán nói chung và toán 4 nói riêng có hiệu quả đáng kể. Để nâng cao chất lượng dạy và học, trước hết người giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, luôn thương yêu, quan tâm, gần gũi học sinh. Ngoài ra giáo viên cần đầu tư thời gian nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, xem ti vi và các phương tiện thông tin đại chúng, thực hành đồ dùng dạy học, tự sưu tầm làm đồ dùng phục vụ cho bài giảng chu đáo. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, thăm lớp dự giờ, nghiên cứu chuyên đề họp bàn rút kinh nghiệm lấy ý kiến tập thể thống nhất về chuyên đề mà cá nhân đề xuất phải thường xuyên tự trang bị cho mình những kiến thức nhất định để bài dạy đạt kết quả ngày một tốt hơn. Qua thực tế áp dụng biện pháp dạy học tích cực trên vào hướng dẫn học sinh học tốt môn Toán, bản thân tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm cần có hướng phấn đấu. Giáo viên phải nắm chắc chương trình môn Toán lớp 4, nắm vững kiến thức Toán trong SGK; SGV; Đặc biệt là chuẩn kiến thức kĩ năng. Có đầy đủ đồ dùng dạy và học cho giáo viên và học sinh ở các tiết học. Có phần củng cố bằng các trò chơi: “Trò chơi học Toán” và chuyển từ kiến thức cũ giúp học sinh khai thác kiến thức mới một cách hấp dẫn, khoa học. Biết tổ chức các phương pháp dạy học gắn với các bài tập thực hành luyện tập. giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng làm các bài tập một cách chính xác. Đây cũng là cách giúp các em ghi nhớ lâu những qui tắc và vận dụng giải các bài tập đã học để khi lên lớp trên giáo viên nhắc tới những dạng bài tập đó là các em nhớ và vận dụng làm được ngay.
File đính kèm:
skkn_nhung_bien_phap_giup_hoc_sinh_chu_dong_tiep_thu_kien_th.pdf

