Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4

pdf 24 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục Lớp 4
 PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lý do chọn sáng kiến.
 Mục đích của giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học là nhằm góp phần
bảo vệ sức khoẻ, cung cấp những kiến thức cơ bản về vệ sinh cơ thể, môi
trường hình thành thói quen tập luyện, biết tực hiện một số động tác cơ bản thể
dục, thể thao, trò chơi vận động, tạo nên môi trường phát triển tự nhiên của trẻ, gây
được không khí vui tươi lành mạnh, nhanh nhẹn, mạnh dạn, dũng cảm giúp cho
các em vui chơi, giải trí sau những giờ học căng thẳng trong lớp.
 Giáo dục thể chất với nhiệm vụ "Phát triển toàn diện các tố chất thể lực và
trên cơ sở phát triển các năng lực thể chất, hình thành hệ thống và tiến hành hoàn
thiện đến mức cần thiết các kỹ năng, kỹ xảo quan trọng trong cuộc sống". Không
những thế, giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một mặt của giáo dục tiến bộ, là nhu
cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội văn minh nói
chung và của công việc xây dựng Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc nói riêng.
 Phân môn thể dục còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh
và tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt giáo dục khác. Bởi vì có sức khỏe tốt thì học
sinh mới có thể tham gia được các hoạt động giáo dục khác.
 Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy đủ.
Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa
được tốt, sự tập trung chú ý chưa bền vững, dễ bị phân tán, tính hưng phấn chưa
cao, trí tưởng tưởng đang phát triển song còn tương đối nghèo nàn, ít có tổ chức, tư
duy logic chưa cao. Vậy nên làm thế nào để khi dạy bài thể dục phát triển chung
cho học sinh lớp 4 thực sự thu hút được sự tập trung cao độ, tích cực tập luyện có
hiểu quả, ... là vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư suy nghĩ, nghiên cứu.
 Bài thể dục phát triển chung là hoạt động tập thể đầu tiên của một giờ thể dục.
Bởi vậy các em tập đúng, chính xác thì sẽ tạo được không khí học tập sôi nổi, các
em sẽ có hứng thú và cảm thấy thoải mái và yêu thích giớ thể dục hơn. Nếu các em
tập không chính xác, tập uể oải, rời rạc thì các em sẽ không có hứng thú với tiết 2
 học. Từ đó tạo tâm lý chán nản không muốn học.Vì thế giờ học buồn chán, học
sinh không tự giác luyện tập.
 Bài thể dục phát triển chung là bài tập khởi động làm nóng cơ thể, đưa cơ thể
từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, giúp cơ thể thích nghi với lượng vận động
của giờ thể dục. Trong quá trình giảng dạy thể dục ở trường tiểu học, tôi được phân
công giảng dạy thể dục khối 4. Trải qua một quá trình lên lớp, tôi nhận thấy học
sinh khối lớp 4 tập bài thể dục chưa tốt, còn nhiều em tập động tác chưa đúng, độ
chính xác chưa cao.Biên độ động tác cũng như nhịp điệu động tác chưa phù hợp.Vì
vậy cần hướng dẫn các em học tốt được bài thể dục phát triển chung lớp 4. Để các
em có được những tư thế đúng khi tập thể dục.
 Chính vì những nguyên nhân trên, với những mục tiêu và yêu cầu cấp bách đó
bản thân tôi đã mạnh lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm về bài thể dục phát triển
chung lớp 4 "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục lớp 4".
 Sáng kiến này tôi viết dựa vào quá trình thực tế giảng dạy thể dục ở khối lớp
4. Cũng từ tình hình học sinh chưa học tốt bài thể dục.Vì vậy tôi đã tìm tòi, nghiên
cứu và áp dụng một số giải pháp nhằm giúp học sinh học tốt bài thể dục phát triển
chung, để từ đó các em sẽ hứng thú với tiết học. Tiết học sẽ trở nên sôi nổi, nhẹ
nhàng và đạt hiệu quả cao hơn.
 Tóm lại sáng kiến này nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp giúp học sinh
khối lớp 4 học tốt bài thể dục phát triển chung.
 2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến.
 Giúp các em học sinh khối 4 trường tiểu học thị trấn Tân An học tốt bài thể
dục phát triển chung, nâng cao các tố chất thể lực và phát triển cơ thể một cách cân
đối, toàn diện.
 Giúp các em học sinh nhiệt tình, tự giác hơn trong việc luyện tập thể dục
thể thao ở trường, cũng như biết cách tự rèn luyện và luyện tập ở nhà để tăng
cường sức khỏe cho bản thân. Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho
học sinh. 3
 Trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản trong họat động thể dục thể thao,
giaó dục cho các em ý thức tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, để nâng cao
sức khỏe cho bản thân, phục vụ cho học tập và cho cuộc sống hàng ngày.
 Rèn luyện cho các em tính đoàn kết, tinh thần kỷ luật, lòng dũng cảm để từ
đó góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, hính thành nhân cách con người mới trong
xã hội hiện nay.
 Taọ hứng thú cho học sinh tập luyện vầ học tập môn thể dục đạt hiêu quả
cao. Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào rèn luyện và tập luyện thể dục thể
thao theo tấm gương đạo đức HỒ CHÍ MINH, góp phần nâng cao sức khỏe, sức đề
kháng của cơ thể, phòng trống các bệnh cảm cúm, ho...cho học sinh trong nhà
trường.
 3. Đối tượng nghiên cứu.
 - Học sinh khối 4 - Trường tiểu thị trấn Tân An
 - Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục lớp 4.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 - Nghiên cứu 8 động tác của bài thể dục phát triển chung lớp 4.
 - Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục
lớp 4.
 - Nghiên cứu các phương pháp tập luyện, trò chơi, thi đua để tạo hứng thú
cho học sinh tập luyện đạt kết quả tốt nhất.
 5. Phương pháp nghiên cứu.
 Để thực hiện được đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
 - Phương pháp trực quan
 - Phương pháp dùng lời nói
 - Phương pháp điều tra
 - Phương pháp thực hành 4
- Phương pháp sửa chữa động tác sai
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp thi đua
- Phương pháp thống kê toán học 5
 PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan.
 Như chúng ta đã biết trong bài "Sức khoẻ và thể thao" ngày 27/3/1946 đăng
trên báo "Cứu quốc" có đoạn viết "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời
sống mới. Việc gì cũng cần phải có sức khoẻ mới làm được, mới thành công. Mỗi
người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi người dân khoẻ mạnh tức là cả nước
mạnh khoẻ. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người
dân yêu nước. Việc đó không tốn kém khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên
làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày ngủ dậy tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập
thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ như vậy là sức khoẻ".
 Vậy nên giáo dục thể chất đã được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong
những mục tiêu giáo dục toàn diện và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiến
pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi: "Quy định chế
độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học". Điều này xuất phát từ ý nghĩa to
lớn của giáo dục thể chất trong nhà trường. Giáo dục thể chất được hiểu : " Qúa
trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất, nâng cao
khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người".
 Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm
với đầy đủ đặc điểm của nó và có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm. Giáo dục thể
chất được chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác và giáo dục tố
chất thể lực.
 Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn
liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mĩ dục và giáo dục lao động.
 Mục đích của giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học nhằm góp phần
bảo vệ sức khoẻ, cung cấp những kiến thức cơ bản về phát triển cơ thể, môi trường,
đồng thời hình thành ở người học những nhân cách sống của con người lao động
mới trong thời đại mới. Giáo dục thể chất với nhiệm vụ "Phát triển toàn diện các tố
chất thể lực và trên cơ sở phát triển các năng lực thể chất, hình thành hệ thống và
tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỷ năng, kỷ xảo quan trọng trong cuộc 6
sống". Không những thế, giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một mặt của giáo dục
tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội
văn minh nói chung và của công việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc
nói riêng. Phân môn thể dục còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành
mạnh và tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt giáo dục khác.
 Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy đủ.
Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa
được tốt, sự tập trung chú ý chưa bền vững, dễ bị phân tán, tính hưng phấn chưa
cao, trí tưởng tưởng đang phát triển song còn tương đối nghèo nàn, ít có tổ chức, tư
duy logic chưa cao. Vậy nên làm thế nào để khi dạy bài thể dục phát triển chung
cho học sinh lớp 4 thực sự thu hút được sự tập trung cao độ, tích cực tập luyện có
hiểu quả, ... là vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư suy nghĩ, nghiên cứu.
 2. Thực trạng.
 2.1. Thực trạng của vấn đề.
 a. Thuận lợi.
 Phương tiện luyện tập trong giờ thể dục tương đối đầy đủ. Nhà trường đã
quan tâm đầu tư về trang thiết bị dụng cụ, tranh, ảnh để phục vụ cho công tác giảng
dạy môn thể dục.
 Đa số học sinh trong trường là người địa phương nên thuận lợi cho việc giao
tiếp và truyền đạt kiến thức.
 Trường học nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo, cán bộ ngành tạo
điều kiện để trường nâng cao chất lượng giảng dạy, số lượng học sinh trong lớp
đảm bảo.
 Giáo viên được tập huấn hướng dẫn cách xây dựng và thiết kế bài học theo
hướng phân chia hoạt động cụ thể, rõ ràng, có chỉ dẫn phương pháp giảng dạy từng
chủ đề, động tác.
 Được sự đồng tình và giúp đỡ, động viên của đồng nghiệp, của Ban giám
hiệu nhà trường. 7
 Giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, luôn cố gắng tìm tòi, nghiên
cứu các tài liệu cũng như học hỏi qua các tiết dạy của đồng nghiệp để tìm ra biện
pháp giáo dục tốt nhất nhằm đem lại hiệu quả cho tiết dạy.
 b. Khó khăn.
 Sân bãi phục vụ cho công tác dạy và học còn hạn chế.
 Các loại sách tham khảo phục vụ cho bộ môn thể dục ít nên còn ảnh hưởng
nhiều đến công tác nghiên cứu, tìm tòi của giáo viên.
 Vẫn còn tồn tại trong số ít phụ huynh học sinh xem thể dục là môn phụ nên
thiếu sự quan tâm, dạy bảo học sinh tập luyện ở nhà.
 2.2. Nguyên nhân dẫn tới học sinh tập chưa tốt bài thể dục phát triển chung.
 Qua nhiều năm giảng dạy thể dục cũng như theo dõi qua các tiết dạy và làm
khảo sát ở học sinh khối lớp 4, bản thân tôi thấy các em tập chưa tốt bài thể dục
phát triển chung là do một số nguyên nhân như sau:
 Một bộ phận học sinh còn xem nhẹ môn học vì coi đây là môn phụ.
 Học sinh chưa hiểu rõ vị trí, tầm quan trong của việc tập luyện bài thể dục.
 Mất tập trung trong giờ học dẫn tới việc tập chưa đúng ở một số động tác.
 Sự phối hợp chưa nhịp nhàng giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ
nhiệm và phụ huynh học sinh.
 Một số học sinh do tập thể dục không thường xuyên hoặc tập chưa đúng
động tác nên gây ra sự mệt mỏi ở các cơ bắp từ đó không còn hứng thú với bài thể
dục.
 Thiếu sự quan tâm, chỉ bảo của phụ huynh học sinh, từ đó học sinh chưa
hình thành được thói quen tập thể dục hàng ngày.
 * Vậy học sinh tập chưa tốt bài thể dục phát triển chung có ảnh hưởng gì đến sức
khoẻ, sự phát triển các tố chất cũng như việc dạy và học của giáo viên và học sinh?
 Theo tôi thấy, nếu học sinh tập chưa đúng bài thể dục phát triển chung sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến tiết dạy của giáo viên, lớp học từ đó sẽ mất trật tự do một số 8
học sinh không còn hứng thú với môn học. Học sinh tập không đúng bài thể dục
phát triển chung còn ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, gây nên sự uể oải về
mặt tâm lí cũng như mặt thể chất. Từ đó học sinh không rèn luyện được thói quen
tập thể dục hàng ngày.
 3. Đề xuất các giải pháp.
 Đổi mới phương pháp dạy học là xu thế phát triển và đáp ứng nhu cầu thực
tiễn của giáo dục hiện nay. Để đổi mới phương pháp dạy học và tìm ra được những
biện pháp dạy học tốt nhất thì đòi hỏi người giáo viên phải có sự nghiên cứu, tìm
tòi, chuẩn bị bài cũng như các thiết bị, đồ dùng dạy học chu đáo, sân bãi tập luyện
phù hợp trước khi lên lớp. Đối với phần bài thể dục phát triển chung, trước mỗi tiết
dạy giáo viên phải tập sao cho thuần thục các động tác, mỗi giờ học giáo viên cần
chủ động áp dụng các hình thức tích cực hoá học sinh bằng nhiều phương pháp và
hình thức dạy học.
 Để đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động học tập theo
hướng tích cực hoá, cũng như để đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và
học thể dục ở trường Tiểu học trong giai đoạn hiện nay, tạo ra môi trường cung cấp
cho xã hội những con người có sức khoẻ tốt, thể lực cường tráng, dẻo dai. Bản thân
tôi rút ra một số bài học sau:
 - Cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, chú ý tập trung vào việc
phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh. Thường xuyên sử dụng các phương
pháp dạy học đặc trưng của môn học để giúp học sinh nhanh chóng lĩnh hội được
kiến thức cơ bản.
 - Đối với những động tác khó, giáo viên phải hướng dẫn và làm mẫu từng
cử động trước sau đó mới tiến hành hướng dẫn và làm mẫu toàn bộ động tác.
 - Phân bố thời gian tiết học hợp lý sao cho học sinh được thực hành tập
luyện nhiều, chú ý đặc điểm cá biệt của học sinh, ưu tiên sử dụng chia tổ, nhóm
nhỏ để tập luyện. 9
 - Kết hợp với nội dung học tập với trò chơi ở mức hợp lý, thường xuyên áp
dụng phương pháp trò chơi, thi đua, để kích thích sự hưng phấn tập luyện ở học
sinh, góp phần giảm sự nhàm chán ở một số học sinh.
 - Khi hướng dẫn kỹ thuật động tác cần giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, giáo
viên làm mẫu phải chuẩn xác và chọn vị trí đứng làm mẫu thích hợp.
 - Cần khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các em, giờ học nên diễn ra tự
nhiên, nhẹ nhàng.
 - Thực hiện tốt việc chuẩn bị bài dạy, phương tiện, đồ dùng dạy học một
cách hợp lí.
 - Cần sử dụng băng đĩa nhạc có lời hô vào việc dạy học nhằm làm cho lớp
học sinh động, giảm thời gian làm việc cho giáo viên, từ đó có điều kiện uốn nắn,
sửa sai kịp thời.
 Qua một số năm giảng dạy phân môn thể dục ở trường tiểu học , để giúp học
sinh tập tốt bài thể dục phát triển chung góp phần hoàn thành mục đích, nhiêm vụ
của phân môn thể dục bản thân tôi đã áp dụng các biện pháp sau:
 3.1. Giúp học sinh hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của việc tập luyện bài
thể dục phát triển chung lớp 4.
 Trong chương trình thể dục lớp 4 gồm 70 bài dạy trong 35 tuần. Nội dung
gồm 2 phần chính.
 Phần quy định gốm có: Đội hình đội ngũ, bài thể dục phát triển chung, bài
tập rèn luyện tư thế và kỷ năng vận động cơ bản, trò chơi vận động.
 Phần tự chọn: đá cầu, ném bóng.
 Từ cách phân chia cụ thể thành các phần, vậy nên khi dạy đến phần nào thì
người giáo viên cần cho học nắm và hiểu được vị trí, tầm quan trọng , sự cần thiết
cần phải học các phần đó. Thế nên, khi dạy tới phần Bài thể dục phát triển chung,
bản thân tôi dành một ít thời gian giải thích cho học sinh hiểu được sự cần thiết
phải tập luyện bài thể dục này để làm gì? Lợi ích và tác dụng cụ thể của nó? Đó là
nhờ tập luyện bài thể dục phát triển chung mà các em hình thành được nhân cách 10
chuẩn mực, nâng cao được các hoạt động của cơ thể, thúc đẩy sự phát triển những
kĩ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ, hình thành tư thế đúng đắn.
 Tập luyện thể dục thường xuyên, đúng phương pháp, khoa học sẽ làm cho cơ thể
phát triển thể hiện ở sức nhanh, sức bền, độ đàn hồi và linh hoạt của cơ thể tăng lên.
 Bên cạnh đó, nếu tập thể dục thường xuyên sẽ là cho tim khoẻ lên, sự vận
chuyển máu của hệ mạch dễ dàng hơn, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và thải cặn
bã kịp thời hơn, cơ thể trở nên khoẻ cường tráng, ăn ngủ, học tập và lao động tốt hơn.
Cũng nhờ tập luyện thể dục thường xuyên mà cơ xương tiếp thu được máu đầy đủ,
các tế bào xương phát triển nhanh, xương dày lên, cứng và dáng đi khoẻ mạnh.
 Ví dụ: Giáo viên giải thích rõ cho học sinh khi tập động tác "vươn thở" thì sẽ
tác động đến các cơ, phổi và lồng ngực nở ra, tăng độ đàn hồi, tăng lượng khí trao
đổi trong nhịp thở. Từ đó hệ hô hấp hoạt động nhịp nhàng và khoẻ mạnh hơn.
 Động tác "tay" thì giúp hệ cơ của tay phát triển, xương dày lên, cứng và dẻo
dai hơn.
 3.2. Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học hợp lý.
 Trong quá trình giảng dạy bài thể dục phát triển chung ở khối lớp 4, mỗi
giáo viên ai cũng có những phương pháp giảng dạy hay những hình thức tổ chức
tập luyện riêng cho học sinh trong tiết dạy của mình. Mục đích là để tiết học đạt
được hiệu quả, chất lượng cao và học sinh học tốt được bài thể dục phát triển
chung lớp 4.
 Như chúng ta đã biết, mỗi bài học người giáo viên không chỉ sử dụng một
phương pháp và hình thức dạy học mà phải kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy.
Do đó tuỳ theo từng bài dạy cụ thể mà người giáo viên lựa chọn ra những phương
pháp và hình thức dạy học tối ưu nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho tiết dạy.
 Đối với phân môn thể dục cũng vậy, để giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức,
nắm bắt nhanh kỹ thuật động tác thì ở từng bài dạy, từng động tác đòi hỏi người
giáo viên phải tìm ra những phương pháp và hình thức dạy học tối ưu, đúng đặc 11
trưng của môn học nhằm gây được hứng thú tập luyện của học sinh, làm cho tiết
học trở nên nhẹ nhàng, sinh động, học sinh nắm vững được kiến thức của bài dạy.
 Ngoài ra giáo viên còn phải phối hợp tốt giữa phương pháp cũng như những
hình thức tổ chức một cách hợp lí thì học sinh mới tiếp thu một cách dễ dàng và
đạt hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.
 Chẳng hạn: khi dạy động tác "Vươn thở" tôi sử dụng các phương pháp như:
giải thích, trực quan, làm mẫu, thực hành.
 Hình thức: tập đồng loạt cả lớp.
 Học sinh tích cực tham gia tập luyện
 Còn khi dạy động tác "Thăng bằng" tôi sử dụng các phương pháp như: giải
thích, trực quan, làm mẫu, thực hành, thi đua.
 Hình thức: tập cả lớp, cá nhân, nhóm và tổ.
 3.3. Thực hiện "làm mẫu" chính xác. 12
 Khi dạy động tác mới, làm mẫu là một trong những biện pháp rất cần thiết.
Trước hết giáo viên nêu tên động tác, sau đó tiến hành làm mẫu. Khi làm mẫu, giáo
viên phải thể hiện đúng yếu lĩnh của động tác và làm mẫu hoàn chỉnh động tác.
 Đối với những động tác khó, phức tạp, có sự phối hợp của nhiều bộ phận,
giáo viên nên làm mẫu chậm từng nhịp hoặc có thể dừng lại ở những cử động khó
để học sinh làm theo và giáo viên giám sát xem học sinh tập có đúng hay không.
 Ví dụ: Khi dạy động tác "Thăng bằng". Giáo viên tổ chức làm mẫu từng
nhịp của động tác và cho học sinh cùng làm.
 Sau lần làm mẫu đầu giáo viên cho học sinh xem tranh minh hoạ. Khi xem
tranh giáo viên chỉ cần nhấn mạnh những điểm cơ bản của động tác, giúp học sinh
nắm chắc các cử động kỹ thuật.
 Tiếp đó giáo viên có thể làm mẫu một lần nữa nếu như thấy vẫn còn một số
học sinh chưa thực sự nắm chắc kỹ thuật động tác. Đối với lần làm mẫu này giáo
viên cũng thực hiện với một mức độ bình thường, đối với những cử động khó giáo
viên có thể vừa làm vừa nhắc nhở sự chú ý tập trung của học sinh.
 Như tôi đã nêu ở trên, làm mẫu củng phải kết hợp với giải thích kỷ thuật
động tác, đồng thời nhắc nhở học sinh quan sát những khâu chủ yếu. Khi giảng dạy
phải trình bày một cách rõ ràng, nhấn mạnh những điểm then chốt của động tác để
kích thích sự hứng thú của học sinh thực hiện bài tập.
 Khi giáo viên làm mẫu phải cho học sinh đứng xen kẻ nhau để sao cho tất cả
các em đều quan sát được giáo viên làm mẫu động tác. Bên cạnh đó giáo viên cần
sử dụng hình thức làm mẫu theo kiểu "soi gương" để vừa thực hiện vừa quan sát
được sự tập trung của học sinh.
 Ví dụ: khi dạy học sinh thực hiện nhịp 1 của động tác "Chân": "Đá chân trái
ra trước lên cao, đồng thời hai tay dang ngang bàn tay sấp" thì giáo viên làm ngược
lại "Đá chân phải ra trước lên cao, đồng thời hai tay dang ngang bàn tay sấp".
 3.4. Giải thích rõ kỹ thuật động tác. 13
 Đối với phân môn thể dục cấp Tiểu học nói chung và bài thể dục phát triển
chung lớp 4 nói riêng thì khi giảng dạy là không thể thiếu giải thích kỹ thuật động
tác. Đây là phương pháp giúp học sinh có mục đích, hiểu và nắm được kỹ thuật
từng nhịp cũng như toàn bộ động tác. Là cơ sở tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận
bài tập một cách chính xác, nhanh nhất về mặt kỹ thuật, đồng thời giúp học sinh
nhớ và khắc sâu để từ đó hình thành biểu tượng chung của động tác. Song song với
việc giải thích kỹ thuật thì giáo viên cũng nên kết hợp với làm mẫu để giúp học
sinh tiếp thu một cách nhanh và hiệu quả nhất.
 Ví dụ: Dạy động tác "Tay" trước hết giáo viên nêu tên động tác, sau đó giải
thích cặn kẽ từng nhịp nhưng không quá dài dòng như:
 Nhịp 1: Khụy gối, lưng thẳng, đồng thời hai tay sang ngang rồi gập khủy tay,
các ngón tay đặt lên hõm vai. Giáo viên vừa nói vừa làm mẫu. Các nhịp còn lại tôi
cũng vừa giải thích kỹ thuật động tác vừa làm mẫu.
 Khi giải thích kỹ thuật động tác, giáo viên cần nói ngắn gọn, chính xác
nhưng dễ hiểu, tránh giải thích dài dòng gây nên sự nhàm chán ở học sinh cũng
như mất thời gian để học sinh thực hành luyện tập. Việc giải thích cần chú ý giúp
học sinh nắm vững nét cơ bản kỹ thuật và nhấn mạnh yếu lĩnh của động tác đã học.
Qua đó củng cố được kỷ thuật luyện tập, đánh giá được ý thức thực hiện bài tập
của học sinh. Trong khi giải thích kỹ thuật động tác giáo viên phải chọn vị trí đứng
sao cho hợp lí để lời nói của mình vừa được tất cả học sinh trong lớp nghe, giáo
viên vừa quan sát được tất cả các em trong lớp. Tránh đứng quá gần hoặc quá xa,
đứng lệch sang một bên. 14
 Học sinh luyện tập đúng kĩ thuật động tác
 3.5. Tổ chức luyện tập theo nhóm.
 Cũng giống như một số môn học khác, sử dụng học tập theo nhóm đôi nhằm
giúp cho học sinh có điều kiện phát huy tính mạnh dạn, tự tin và có điều kiện cùng
giúp nhau tiến bộ trong học tập. Đối với phân môn thể dục cũng thế, sau khi giáo
viên đã hướng dẫn xong kỹ thuật động tác và tổ chức cho học sinh luyện tập theo
lớp một số lần kết hợp với quan sát, uốn nắn, sửa sai tại chỗ. Nhưng cứ tập theo
đội hình cả lớp như vậy thì sẽ gây nên sự nhàm chán, đơn điệu, mỗi lần giáo viên
dừng lại sửa sai cho một em nào đó thì cả lớp cũng phải ngưng tập gây lãng phí
thời gian của tiết học. Vậy nên sau một vài lần tập theo đội hình cả lớp thì giáo
viên sẽ chia lớp thành các nhóm đôi, phân công vị trí cũng như giao nhiệm vụ cho
các nhóm tập luyện. 15
 Học sinh luyện tập theo nhóm
 Lợi thế của hình thức tập luyện này là học sinh có điều kiện hỗ trợ lẫn nhau,
chỉ bảo cho nhau những kiến thức mà mình đã lĩnh hội được, từ đó giúp các em
khắc sâu thêm kiến thức, khơi dậy cho các em tinh thần đoàn kết . Hơn thế nữa, khi
tập các động tác khó cần có sự phối hợp của nhiều bộ phận trên cơ thể thì tập theo
nhóm đôi sẽ giúp học sinh tự sửa sai cho nhau, cùng giúp dỡ nhau thực hiện đúng
động tác, đồng thời khi dạy theo hình thức này thì giáo viên có nhiều thời gian để
quan sát và sửa sai cho học sinh mà không gây ảnh hưởng tới các học sinh khác.
 Ví dụ: khi học động tác "thăng bằng" đối với những cử động khó như gập
thân, duỗi chân ra sau, hai tay dang ngang,... học sinh A có thể chỉ cho học sinh B
thấy được những cử động tập chưa chính xác, từ đó chỉnh sửa cho đúng với yêu
cầu kỹ thuật động tác và ngược lại.
 3.6. Dùng phương pháp "thi đua" vào tiết dạy một cách hợp lý.
 Đối với phân môn thể dục nói chung và bài thể dục phát triển chung nói
riêng thì khối lượng vận động của mỗi tiết học không nhiều, những bài tập thường
đơn điệu, các động tác lặp lại nhiều lần nên dễ gây cảm giác nhàm chán trong học 16
sinh. Vậy nên phương pháp học tập này đóng vai trò khá quan trọng trong việc
đem lại hiệu quả cho một tiết học. Cụ thể, thông qua hình thức học tập này học
sinh sẽ phát huy hết khả năng của mình, từ đó kích thích những học sinh khác có
tinh thần tự giác tập luyện, sự hưng phấn trong học tập được nhân lên nhiều lần,
giảm bớt được sự uể oải, thiếu tập trung ở một số bộ phận học sinh.
 Ví dụ: Những tiết ôn tập, học sinh khá, giỏi dễ bị nhàm chán do kiến thức,
thực hành lặp lại nhiều lần. Vậy để đảm bảo cho các đối tượng học sinh hưng phấn
tập luyện, tiếp thu tốt kiến thức thì giáo viên tổ chức cho học sinh thi đua tập luyện
theo nhóm nhỏ, sau đó tuyên dương động viên những
Em tập tốt.
 Tổ chức cho học sinh thi giữa nhóm Nam với Nữ 17
 Tổ chức luyện tập thi đua giữa nhóm nam và nhóm nữ
 3.7. Sử dụng "băng đĩa nhạc có lời hô" vào trong tiết dạy.
 Phần bài thể dục phát chung ở lớp 4 gồm có 8 động tác, thế nhưng khi giảng
dạy không phải động tác nào cũng có nhịp hô như nhau mà tuỳ thuộc vào từng
động tác, có những động tác cần nhịp hô hơi chậm và kéo dài để học sinh tập kịp
kết hợp phối hợp các bộ phận của cơ thể như: động tác vươn thở, điều hoà; nhưng cũng
có những động tác cần hô hơi nhanh, có động tác cần nhịp hô vừa. Vậy nên khi cho học
sinh tập cả lớp giáo viên nên sử dụng băng đĩa nhạc có lời hô để giúp học sinh thực
hiện động tác đúng biên độ. Bên cạnh đó giáo viên có thêm thời gian để quan sát và uốn
nắn, sửa sai kịp thời cho từng học sinh đối với những động tác mà các em tập chưa
đúng.
 Đồng thời khi sử dụng băng đĩa nhạc có lời hô vào mỗi tiết dạy còn làm cho tiết
học thêm phong phú, sinh động, học sinh có hứng thú hơn với tiết học. Từ đó các em tự
giác, tích cực luyện tập và đạt kết quả cao nhất sau mỗi buổi tập. Cũng chings vì tạo
được hứng thú cho học sinh mà các em luôn mong được học thể dục. 18
 3.8. Phối kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh để giúp
các em có ý thức tự tập luyện tốt bài thể dục.
 Đối với giáo viên bộ môn ở cấp tiểu học thường không làm công tác chủ
nhiệm một lớp nào, vậy nên trong quá trình giảng dạy cần có sự phối hợp với giáo
viên chủ nhiệm lớp nhằm giúp cho quá trình giảng dạy thu được hiệu quả cao.
Thông qua sự phối hợp này, giáo viên bộ môn sẽ nắm dược cá tính , tâm lí, sở
thích cũng như trạng thái sức khoẻ của từng học học sinh để từ đó đề ra được các
biện pháp giáo dục cho các đối tượng học sinh một cách hợp lí. Đối với học sinh
cấp tiểu học, giáo viên chủ nhiệm được xem như người cha, người mẹ ở trường
nên học sinh rất vâng lời giáo viên, hay biểu lộ cảm xúc vui, buồn, thích hay không
thích cho thầy, cô chủ nhiệm của lớp nên khi xảy ra trường hợp học sinh của lớp
nào có biểu hiện chây lười trong việc tập luyện thể dục, ít vâng lời giáo viên bộ
môn thì lúc này công tác phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm lớp đó trong việc giáo
dục những học sinh trên là điều hết sức cần thiết. Bên cạnh phối hợp với giáo viên
chủ nhiệm lớp thì vai trò của phụ huynh học sinh cũng có vai trò không nhỏ trong
việc giảng dạy của giáo viên thể dục. Bởi vì thực tế học sinh chỉ tham gia vào quá 19
trình học tập ở trường với lượng thời gian khá ít, còn lại là tự học tập ở nhà, thế
nên để tất cả học sinh đều có ý thức tự tập luyện, hình thành thói quen tập thể dục
hàng ngày đều phải cần đến sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ các em, cũng nhờ
sự phối hợp này giáo viên thể dục còn nắm rõ hơn về tình trạng sức khoẻ, tâm sinh
lí của từng em để từ đó đưa ra các biện pháp và phân bố thời gian dạy học được
hợp lý.
 4. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng.
 Trong quá trình áp dụng các biện pháp nghiên cứu trên vào việc giảng dạy
bài thể dục phát triển chung cho học sinh lớp 4, sau một thời gian khảo sát vào hai
thời điểm : Từ tháng 10/2019 đến cuối tháng 5/ 2020 bản thân tôi thu được kết quả
như sau:
 Giáo viên cảm thấy tự tin và chủ động hơn, tiết dạy trở nên sôi nổi, học sinh
tích cực học tập và nhiệt tình vào các hoạt động tập luyện, tinh thần giúp đỡ nhau
trong học tập ngày càng cao.
 Tiết học đạt chất lượng và hiệu quả hơn. Học sinh tập tương đối chính xác 8
động tác của bài thể dục phát triển chung.
 Tiết học trở nên sôi nổi và học sinh hào hứng hơn trong khi tập luyện.Tư thế
thân người, biên độ động tác, nhịp điệu động tác đúng và tương đối đẹp.
 Học sing tích cực, chủ động, tự giác tham gia tập luyện. các em yêu thich
giờ thể dục và mong muốn được tập luyện và thi đua với nhau.
 Học sinh tỏ ra thân thiết với nhau, đoàn kết và biết giúp đỡ nhau tích cực
hơn.
 Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh thân thiện, cởi mở hơn.
 Phụ huynh tích cực hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục học sinh.
 Chất lượng chung của học sinh lớp 4 có sự chuyển biến rõ rệt về mặt ý thức
cũng như luyện tập thực hành. 20
 Học sinh nắm được tầm quan trọng, cũng như ý nghĩa của việc tập luyện thể
dục. Từ đó các em có thói quen tập thể dục buổi sáng, tự giác rèn luyện nhằm nâng
cao sức khoẻ thông việc học tập ở lớp.
 Kết quả cụ thể:
 Thời gian Khối Tổng Chưa hoàn
 Hoàn thành Hoàn thành
 lớp số hs thành
 khảo sát tốt
 TS % TS % TS %
 Tháng
 4 118 20 89 75,4% 9
 10/2019 16,9% 7,7%
 Cuối
 tháng 4 118 69 49 0
 5/2020 58,5% 41,5% 0
 Qua bảng thống kê cho thấy kết quả giảng dạy môn thể dục cuối tháng
5/2020 so với đầu năm có sự chuyển biến rõ rệt. Số lượng hoàn thành tốt tăng lên
41,6%.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_d.pdf