SKKN Một số biện pháp dạy học Mĩ thuật Lớp 3, Lớp 4 theo quy trình Vẽ biểu cảm đạt hiệu quả cao” để nghiên cứu

pdf 23 trang Túc Tinh 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp dạy học Mĩ thuật Lớp 3, Lớp 4 theo quy trình Vẽ biểu cảm đạt hiệu quả cao” để nghiên cứu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp dạy học Mĩ thuật Lớp 3, Lớp 4 theo quy trình Vẽ biểu cảm đạt hiệu quả cao” để nghiên cứu

SKKN Một số biện pháp dạy học Mĩ thuật Lớp 3, Lớp 4 theo quy trình Vẽ biểu cảm đạt hiệu quả cao” để nghiên cứu
 PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lý do chọn đề tài.
 Khi nói đến mĩ thuật là nói đến cái đẹp của cuộc sống, là những tinh hoa
được chắt lọc từ nét đẹp của đời thường. Vì thế nghệ thuật rất gần gũi với cuộc
sống của con người. Với sự thay đổi phương pháp dạy học môn Mĩ thuật theo Đan
Mạch đã đem đến cho các giáo viên mĩ thuật cảm hứng để hỗ trợ học sinh phát
triển khả năng tiếp thu thẩm mĩ và sáng tạo, bằng cách khuyến khích các em trải
nghiệm, sáng tạo, bày tỏ, hợp tác và giao tiếp với nhau qua các hoạt động mĩ thuật
thực tế. Thông qua hoạt động mĩ thuật thực tế, học sinh tự làm giàu cách biểu đạt,
phân tích, đánh giá, tự lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng
lực ở cá nhân.
 Căn cứ Kế hoạch số 366/KH-PGD&ĐT ngày 12/9/2019 về việc chỉ đạo
thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020 của Phòng GD&ĐT, Phòng Giáo dục và
Đào tạo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục tiểu học năm học 2019-2020, cụ
thể như sau: Thực hiện tốt chủ đề năm học: "Giữ vững kỷ cương, nền nếp trường
lớp học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa ứng xử cho
đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên; chuẩn bị tốt các điều kiện cho đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông".Thực hiện hiệu quả 6 mô hình đổi mới giáo dục,
trong đó có mô hình dạy học mĩ thuật theo phương pháp mới trong trường tiểu
học.Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học đối với bộ môn Mĩ thuật nói
riêng và tất cả các môn học khác nói chung đều rất cần thiết.
 Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà tất cả các em học sinh
không phải em nào cũng có năng khiếu mĩ thuật. Như chúng ta đã biết dạy Mĩ
thuật không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà nhằm giáo dục thẩm mĩ cho
các em là chủ yếu, tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái
đẹp, tập tạo ra cái đẹp và biết vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt học tập hàng ngày và
những công việc cụ thể mai sau. Môn Mĩ thuật góp phần nâng cao hơn năng lực
quan sát, khả năng tư duy hình tượng và tính sáng tạo của các em với một
phươngpháp làm việc mới, đáp ứng đòi hỏi của một xã hội phát triển ngày càng
cao. Được sự quan tâm quản lý, chỉ đạo của các cấp, công tác giảng dạy Mĩ thuật ở
trường tiểu học đang từng bước ổn định và phát triển, chất lượng giáo viên cũng
dần dần được nâng cao. Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn mĩ thuật
là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung tiết dạy mà kết hợp nhiều kĩ thuật
trong một bài dạy như: Vẽ biểu cảm, vẽ cùng nhau, vẽ theo nhạc, xây dựng cốt
truyện, xây dựng câu chuyện,... So với phương pháp truyền thống trước đây,
phương pháp mới phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, học sinh khám 2
phá được nhiều điều mới mẻ, phát triển khả năng giao tiếp, kĩ năng trình bày sản
phẩm của mình trước đám đông, từ đó các em có được những trải nghiệm để gợi
mở cách nhìn nhận, cảm giác sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển khả
năng sáng tạo và biểu đạt, vì vậy học sinh có được những hình ảnh và động lực
mang tính tinh thần.
 Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Mỹ thuật, tôi luôn tạo cho các em một
môi trường học tập thân thiện, luôn động viên, khích lệ, chia sẻ với học sinh mục
tiêu học tập, tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong việc học mĩ thuật của các
em nhằm tìm ra những phương pháp tốt nhất để giúp các em học tốt hơn đối với bộ
môn năng khiếu này. Chính vì lẽ đó mà tôi đã mạnh dạn chọn sáng kiến: “Một số
biện pháp dạy học Mĩ thuật lớp 3, lớp 4 theo quy trình Vẽ biểu cảm đạt hiệu
quả cao” để nghiên cứu.
 2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
 - Giúp học sinh khối 3, khối 4 có được cảm hứng, sự tự tin và niềm đam mê yêu
thích đối với quy trình vẽ biểu cảm thông qua các hoạt động học tập môn mĩ thuật.
 - Giúp học sinh phát triển được khả năng làm việc tập trung và yên lặng,
phát triển khả năng kết hợp mắt và tay.
 - Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, ghi nhớ, tưởng tượng là rất cần thiết,
đồng thời giúp học sinh thực hành tốt bài vẽ nhất là bài vẽ ở quy trình vẽ biểu cảm.
 Vậy làm thế nào để học sinh nhận thức rõ vai trò quan trọng của phương
pháp mới và làm thế nào để học sinh thực hành tốt việc rèn luyện kĩ năng quan sát,
phân tích, ghi nhớ, tưởng tượng bài vẽ mĩ thuật, tôi đã nghiên cứu tìm một số biện
pháp nhằm thu hút giúp học sinh học tốt môn học ở quy trình vẽ biểu cảm này.
 3. Đối tượng nghiên cứu.
 Giáo viên và học sinh cùng thực nghiệm, nghiên cứu quy trình vẽ biểu cảm.
 Học sinh tiểu học, cụ thể học sinh khối 3 và khối 4 Trường tiểu học Thị trấn Tân An.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
 Tìm ra biện pháp giúp học sinh tiểu học nói chung và học sinh khối 3, khối 4
nói riêng có được những kiến thức, kĩ năng tốt khi trải nghiệm quy trình vẽ biểu
cảm trong môn mĩ thuật. Giúp học sinh nhìn ra cái đẹp, tạo ra cái đẹp và cảm thụ
cái đẹp bằng chính khả năng và sở thích của mình, mỗi học sinh tạo ra sản phẩm
đẹp, không sao chép bài dạy của giáo viên, không giống bài của bạn, và không in
hoặc chép giống sách giáo khoa. 3
 Với sáng kiến kinh nghiệm này khi áp dụng học sinh học tập rất hứng thú,
các em biết vẽ tranh biểu đạt qua sự quan sát và kết hợp giữa mắt và tay, tập trung
vào cá đường nét, được trải nghiệm và nắm được giá trị của vẽ biểu cảm. Học sinh
được học tập thông qua các hoạt động và học sinh là chủ thể trực tiếp tham gia tìm
tòi, biết trao đổi giao lưu kiến thức cùng với bạn của mình. Phát huy khả năng sáng
tạo cao của học sinh, tiết học thoải mái, sinh động tạo cơ hội cho học sinh thực
hành ứng dụng trong học tập, trong cuộc sống. Do vậy kết quả đạt được rất cao.
 Với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học: Dễ nhớ song lại dễ quên, tư
duy trực quan, do đó giáo viên cần cho học sinh được luyện tập nhiều, các bài cần
có hệ thống, bài trước làm cơ sở cách vẽ cho bài sau.
 Mong muốn học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực, chủ
động lĩnh hội kiến thức đồng thời rèn cho học sinh một số kĩ năng cơ bản như: kĩ
năng giao tiếp - ứng xử, kĩ năng tự xử lí thông tin, kĩ năng tự phục vụ thông qua
các hoạt động học. Biến giờ học thực sự là một sân chơi tri thức cho học sinh.
 Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt
động học tập.
 5. Phương pháp nghiên cứu:
 Để thực hiện tốt đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
 - Phương pháp trực quan.
 - Phương pháp quan sát.
 - Phương pháp vấn đáp.
 - Phương pháp hoạt động nhóm, chia sẻ trải nghiệm.
 - Phương pháp luyện tập thực hành.
 - Nhận xét, đánh gíá
 - Điều tra, khảo sát.
 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
 PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
 1. Một số vấn đề có liên quan.
 Nghề dạy học được coi là một nghề cao quý, bởi sản phẩm chủ yếu là nhân
cách con người. Muốn trở thành con người có ích cho xã hội và có một tương lai
tươi sáng thì đều phải dựa vào sự giáo dục của nhà trường. Mĩ thuật là bộ môn
tưởng chừng như rất dễ song lại rất khó bởi nó là môn nghệ thuật luôn trừu tượng
và đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra được cái đẹp, thấy 4
được cái đẹp có ở xung quanh mình giúp cho cuộc sống con người trở lên có ý
nghĩa hơn, yêu đời hơn. Không những vậy còn hình thành và phát triển các năng
lực ở học sinh như năng lực trải nghiệm giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo
và biểu đạt, vì vậy học sinh có được những hình ảnh và động lực mang tính tinh
thần. Năng lực sáng tạo, năng lực biểu đạt, năng lực phân tích và diễn giải, năng
lực giao tiếp và đánh giá. Cùng lúc với việc phát triển những kĩ năng nói trên học
sinh cũng có thể phát triển các giác quan, các kĩ năng sống, các năng lực hợp tác,
kinh nghiệm và năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học và tự đánh giá.
 Dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới gồm có 7 quy trình. Quy trình vẽ
biểu cảm là một trong những quy trình đó. Khác với những bài vẽ theo phương
pháp cũ như vẽ theo mẫu, vẽ chân dung, học sinh phải quan sát kĩ mẫu sau đó vẽ
lại cho thật giống, rõ đặc điểm, đôi khi các em còn sao chép lại trong sách giáo
khoa hay ở trên bảng cô giáo vẽ thị phạm,...làm cho học sinh thấy nhàm chán,
không thích học, không khí tiết học không sôi nổi. Với phương pháp mới này học
sinh sẽ quan sát thật kĩ, ghi nhớ mẫu, khi vẽ chủ yếu kết hợp mắt và tay và cố gắng
không nhìn xuống giấy. Sản phẩm của các em sẽ rất ngộ nghĩnh, ấn tượng, đôi khi
rất hài hước, từ đó tạo cho không khí học tập của các em trở nên thoải mái, mang
lại tiết học đạt hiệu quả cao.
 Là một giáo viên dạy Mĩ thuật, tôi nhận thấy những thuận lợi cũng như
những hạn chế trong việc dạy và học. Vậy muốn phát huy chỗ đứng của bộ môn
Mĩ thuật trong sự nghiệp nói chung và hình thành tính chất thẩm mĩ ở trường tiểu
học nói riêng là một việc làm hết sức khó khăn và trọng tâm là chất lượng dạy học
có hiệu quả. Xuất phát từ tình hình dạy học Mĩ thuật ở trường tôi hiện nay nhất là
việc áp dụng phương pháp dạy học mới đối với học sinh khối lớp 3, lớp 4. Bằng sự
nhiệt tình, sáng tạo và tâm huyết với nghề không ngại khó khi tiếp cận với phương
pháp mới. Những tiết dạy được áp dụng theo phương pháp Đan Mạch đã đạt được
nhiều kết quả cao. Học sinh đã say mê với môn học, không bị áp lực về mặt thời
gian cũng như lo lắng mình không hoàn thành bài. Học sinh được tham gia các
hoạt động một cách thoải mái với phương trâm vừa học, vừa chơi và được trải
nghiệm các chủ đề gần gũi với cuộc sống quanh em.
 Bên cạnh vấn đề đó một số phụ huynh có quan niệm sai lầm nghĩ rằng Mĩ
thuật chỉ là môn học phụ do vậy không quan tâm và khuyến khích học sinh học mà
chỉ nghĩ các em học môn toán, văn là đủ.
 Về phía giáo viên, giáo viên tâm huyết với nghề, song còn giảng dạy đều
dựa vào sách hướng dẫn để dạy chứ chưa hệ thống, chưa tìm ra biện pháp dạy- học 5
tích cực, chưa tìm ra cái mới, cái riêng, sáng tạo mà môn Mĩ thuật rất cần Bởi
vậy dạy - học môn Mĩ thuật thường còn nhiều hạn chế.
 2. Thực trạng.
 * Khảo sát thực trạng HS trước khi áp dụng kinh nghiệm:
 (Khảo sát học sinh khối 3, khối 4)
 * Đầu năm học 2019 - 2020 khi chưa áp dụng sáng kiến.
 Học sinh thích học vẽ Học sinh không thích
 Tổng số
 Khối biểu cảm học vẽ biểu cảm
 học sinh
 SL % SL %
 Khối 3 127 115 90,6 12 9,4
 Khối 4 118 108 91,5 10 8,5
 Thực tế dạy học Mĩ thuật ở trường Tiểu học hiện nay trong các nhà trường
còn những bất cập: Về điều kiện phục vụ cho dạy học Mĩ thuật còn những hạn chế.
Do đó trong công tác quản lí chỉ đạo dạy và học Mĩ thuật cần linh hoạt, sáng tạo.
Khi xem xét đến khả năng nhận thức thẩm mĩ của trẻ em thông qua môn Mĩ thuật
tôi thấy học sinh trường Tiểu học Thị trấn Tân An đa số các em thích môn Mĩ thuật.
Các em có tình cảm hồn nhiên, trong sáng biết yêu mến quê hương, yêu thích màu
sắc rực rỡ của cỏ cây hoa trái và đều muốn được thể hiện sự yêu thích của mình
bằng vẽ tranh. Ở môi trường sống là vùng nông thôn trẻ em được tiếp xúc vẻ đẹp
hàng ngày của thiên nhiên. Đó cũng là một nền tảng vững chắc cho năng khiếu mĩ
thuật của các em phát triển.
 Do điều kiện sống và môi trường văn hoá - xã hội tác động. Mặt khác sự quan
tâm, đầu tư cho giáo dục thẩm mĩ không được đúng mức, nên khả năng mĩ thuật
không phát triển được mà dần mai một đi theo lứa tuổi. Từ đó có sự chênh lệch về
nhận thức thẩm mĩ thể hiện qua tranh vẽ của học sinh Tiểu học. Nếu được quan
tâm thì năng khiếu của các em sẽ được phát huy đúng hướng và thu được kết quả
tốt đẹp.
 * Những thuận lợi:
 Giáo viên môn Mĩ thuật chủ động, linh hoạt trong việc triển khai dạy học Mĩ
thuật theo phương pháp mới của Đan Mạch để phù hợp với từng khối lớp của nhà
trường. 6
 Do đặc thù về nội dung và phương pháp mới của môn học nên Ban giám
hiệu nhà trường đã động viên và tạo điều kiện sắp xếp thời khóa biểu một cách hợp
lí để giáo viên Mĩ thuật chủ động trong việc dạy học theo chủ đề.
 Học sinh ở đơn vị trung tâm khu Đông Bắc nhiều em nhận thức tốt, óc sáng
tạo, trí tưởng tượng phong phú, đời sống kinh tế gia đình khá giả nên đã có sự quan
tâm nhiều hơn đến việc học của con em mình.
 Bên cạnh đó Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Yên Dũng cũng luôn quan
tâm tới chất lượng giáo dục toàn diện theo đúng tinh thần của cấp trên nên đã
thường xuyên và tích cực tổ chức các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học
và dự giờ học tập kinh nghiệm về chuyên môn. Chính vì vậy mà đội ngũ giáo viên
chuyên dạy môn Mĩ thuật cũng có tay nghề vững vàng hơn.
 Bản thân là giáo viên được đào tạo cơ bản về chuyên môn và được tham gia
các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy môn mĩ thuật. Tôi nhận thấy học
sinh rất hứng thú với phương pháp mới và yêu thích môn học này.
 *Những vướng mắc, hạn chế, kém hiệu quả...trong lĩnh vực công tác mình
đảm nhiệm.
 Cơ sở vật chất: Chưa có phòng chức năng riêng nên việc cất giữ đồ dùng,
sản phẩm của các khối lớp còn gặp nhiều khó khăn.
 Dạy học theo phương pháp mới có những khó khăn nhất định đòi hỏi người
giáo viên phải thực sự tìm tòi, nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, chủ động vận dụng
linh hoạt các chủ đề kết hợp với các quy trình dạy học một cách sáng tạo, nhằm thu
hút sự tham gia của tất cả các em học sinh.
 Học sinh bước đầu thực hiện phương pháp học mới còn lúng túng trong việc
trao đổi nội dung để thống nhất theo chủ đề.
 Còn một số em có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi cha (mẹ). Một số em có thể
lực yếu, đa phần các em mẹ là công nhân may nên không có thời gian chăm sóc để
ý đến học tập của các em.
 Một số em không có năng khiếu, khả năng tưởng tượng hạn chế nên cho
rằng đây là môn học khó.
 Một số phụ huynh học sinh chưa thật sự quan tâm đến môn học nghệ thuật,
coi việc học mĩ thuật chỉ là môn phụ nên không quan tâm để ý đến con em mình.
 * Nguyên nhân của thực trạng.
 Đa số các em chưa tích cực, chủ động trong học tập, chưa phát huy được
tính sáng tạo trong thực hành bài vẽ của mình (các em thích sao chép hơn). 7
 Theo quan sát của tôi, trong quá trình giảng dạy môn mĩ thuật ở các khối lớp
nói chung và khối lớp 3, lớp 4 tôi phụ trách thì có rất nhiều học sinh không thực
hiện bước quan sát, phân tích theo hướng dẫn của giáo viên. Một số học sinh
không chú ý mang bài học làm trò đùa. Từ đó dẫn đến kết quả chưa cao, không
phát triển được khả năng hoặc không có tính khoa học trong quá trình vẽ. Dĩ nhiên
mĩ thuật là môn học nghệ thuật, không phải là khoa học, nhưng nếu muốn phát
triển được năng khiếu thì cần phải ứng dụng các kiến thức khoa học, phải có quá
trình rèn luyện - vì nghệ thuật chính là sự sáng tạo của con người thông qua cảm
xúc nghệ thuật, sự quan sát tinh tế cùng với đôi bàn tay khéo léo.
 3. Đề xuất các giải pháp.
 Dạy học theo phương pháp mới của Đan Mạch bao gồm bẩy quy trình.
Trong đó có quy trình vẽ biểu cảm. Học sinh được trải nghiệm với phương pháp
này là cách vẽ hình ảnh bằng sự kết hợp giữa tay và mắt mà không nhìn xuống
giấy. Giáo viên khuyến khích các em ghi nhớ mẫu vẽ và thể hiện lại bằng sự ghi
nhớ, tưởng tượng, sản phẩm tạo ra vô cùng độc đáo, hài hước và hấp dẫn.
 Để giáo viên và học sinh trải nghiệm phương pháp mới vẽ biểu cảm để đạt
được hiệu quả mong muốn. Tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp các
em học tốt phương pháp vẽ biểu cảm.
 3.1. Giải pháp 1: Trước hết người giáo viên phải năm chắc về khái niệm
quy trình vẽ biểu cảm.
 Biểu cảm là sự biểu hiện của các cảm xúc hay bản chất của vẽ biểu cảm là
vẽ mù, vẽ không nhìn giấy, đó là sự phối hợp của mắt, tay, não. Sản phẩm tạo ra là
thường là những bài vẽ hài hước, thú vị, và vô cùng độc đáo.
 Đối với phương pháp này học sinh rất thích thú khi hoàn thành bài vẽ bằng
chì. Bởi khi vẽ xong các em được nhìn ngắm tác phẩm của mình hay của bạn đều
rất lạ và thấy rất buồn cười. Tất cả các bộ phận trên cơ thể con người đều thay đổi
vị trí khác nhau, có khi miệng lại ở trên chán, tai lại ở trên đỉnh đầu,...mỗi bài vẽ
đều rất hài hước, đa dạng. Chính vì vậy tiết học diễn ra thật thoải mái, vui vẻ, học
sinh không bị gò bó, căng thẳng như trong khuôn khổ của một bài vẽ theo mẫu ở
phương pháp cũ, học sinh luôn phải tập trung vẽ sao cho giống mẫu từ đó dẫn tới
hiện tượng học sinh sao chép bài vẽ trên bảng, sách giáo khoa,...Với phương pháp
vẽ biểu cảm này, tiết học được diễn ra như một trò chơi giúp học sinh có được sự
phản xạ tốt về các đường nét, cũng như giúp học sinh kích thích trí tưởng tượng
khi hình dung ra vị trí của các đối tượng mình định vẽ.
( Phải liệt kê quy trình vẽ biểu cảm nữa nhé) 8
 Hình ảnh các em so sánh giữa vẽ chân dung và vẽ chân dung biểu cảm
 Với sự so sánh này học sinh dễ dàng nhận ra được sự khác nhau giữa hai
cách vẽ, và thấy việc học theo phương pháp biểu cảm thích thú hơn rất nhiều, một
số em không biết vẽ tranh chân dung, sợ vẽ người khi học đến tiết này, bây giờ
thấy hào hứng, tích cực hơn mỗi khi học vẽ về phương pháp này.
 3.2.Giải pháp 2: Giúp các em có sự đam mê và chuẩn bị tốt mẫu vẽ
trước khi thực hành.
 Đối với quy trình vẽbiểu cảm, tranh ảnh, mẫu vẽ thì việc học sinh phải ghi
nhớ, tưởng tượng mẫu vẽ là rất cần thiết. Tranh, ảnh biểu cảm phải đa dạng, phong
phú, rõ ràng. Mẫu quan sát cũng phải gây được ấn tượng để học sinh dễ ghi nhớ
các nét đặc trưng.
 Giáo viên cần chuẩn bị những mẫu vẽ đẹp để học sinh có hứng thú, quan sát,
từ đó lôi cuốn vào các bước tiếp theo của chủ đề. Như vậy ngay từ bước đầu tiên
chuẩn bị đồ dùng, tranh ảnh giáo viên đã bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng
quan sát, ghi nhớ mẫu. Mẫu vẽ là chính bản thân các em khi các em soi mình vào
gương, hoặc là hai bạn tự quan sát nhau rồi ghi nhớ đặc điểm hay là giáo viên sẽ
sưu tầm tranh ảnh của các họa sĩ Việt Nam nổi tiếng để gây hứng thú cho học sinh.
Học sinh sẽ chọn một trong số các tác phẩm trong bộ sưu tập của thày cô. Phải
đảm bảo tất cả các bức tranh đều dễ hiểu và có bố cục rõ ràng. Đối với vẽ tranh
biểu cảm các đồ vật cũng vậy, giáo viên và học sinh cùng nhau chuẩn bị mẫu vẽ 9
thật như hoa quả, chai, lọ,...Học sinh vẽ lại bức tranh dựa trên cảm nhận của mình.
Học sinh kết hợp quan sát và tưởng tượng.
 Giáo viên nên để cho học sinh tự bày mẫu, sau đó chỉnh sửa và gợi ý cho
học sinh cách bày mẫu đẹp, hợp lý. Mẫu vẽ cần được trình bày phong phú và đảm
bảo có nhiều góc vẽ đẹp.
 Giáo dục mĩ thuật không nhằm mục đính đào tạo học sinh trở thành những
người sao chép tác phẩm của người khác, mà là để học sinh thể hiện cảm xúc của
mình thông qua những trải nghiệm khác nhau.
 Hình ảnh em Thảo Nguyên lên bày mẫu
 Lớp học cần được sắp xếp hợp lí đảm bảo cho tất cả các học sinh đều có thể
quan sát mẫu vẽ một cách dễ dàng, thoải mái. Có thể sắp xếp chỗ trưng bày tranh
sao cho học sinh được thăm quan bài vẽ của bạn để từ đó giúp các em hứng thú
chia sẻ những gì mình học tập trong tác phẩm của bạn. 10
 3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh kĩ năng quan sát, ghi nhớ mẫu (vẽ
không nhìn giấy).
 Ở hoạt động này, giáo viên cần khuyến khích học sinh biết cách quan sát,
ghi nhớ các nét đặc trưng. Phát triển khả năng kết hợp mắt và tay. Khi vẽ cần tập
trung và yên lặng. Các em cố gắng không nhìn vào giấy khi vẽ. Đồng thời giáo
viên gây chú ý bằng cách đặt các câu hỏi trước khi tiến hành vẽ.
 * Cách đặt câu hỏi.
 Đối với phân môn vẽ biểu cảm, giáo viên cần bám sát mẫu để đặt câu hỏi cụ
thể về mẫu không đặt câu hỏi một cách chung chung, câu hỏi mang tính gợi mở rõ
ràng giúp học sinh hiểu nhanh và ghi nhớ một cách dễ dàng nhất. Khi đặt câu hỏi
giáo viên cần chỉ vào mẫu để hướng sự chú ý của học sinh vào mẫu vẽ.
 + Ví dụ về chủ đề vẽ tĩnh vật lọ hoa và quả- lớp 4
 - Mẫu gồm có mấy đồ vật?
 - Đó là những vật mẫu nào?
 - Vị trí của lọ hoa so với quả như thế nào?
 - So sánh tỷ lệ chiều cao của quả so với lọ hoa?
 - Lọ hoa gồm những phần nào?
 - So sánh tỷ lệ giữ các phần của lọ hoa?
 - So sánh tỷ lệ giữa chiều ngang và chiều cao của quả?
 - Màu sắc của vật mẫu như thế nào?
 - Phân biệt các độ đậm nhạt thay đổi trên mẫu?
 Học sinh chăm chú quan sát và dựa vào mẫu vẽ để trả lời các câu hỏi. học
sinh có thể trao đổi thảo luận trong nhóm của mình khi khó khăn trong câu trả lời.
học sinh cùng nhau đưa ra những câu trả lời hay và hấp dẫn nhất. Giáo viên chia sẻ
ngay từ đầu mục đích của tiết học không phải các em tạo ra những sản phẩm giống
hệt mẫu vẽ, mà ở đây cần sự quan sát, khả năng tập trung cao để các em có thể
truyền cảm xúc qua tay và thể hiện được một tác phẩm vào giấy vẽ một cách độc
đáo, ấn tượng. Trong không khí làm việc hăng say, tập trung, các em đã làm việc
hết khả năng của mình, cùng với sự hỗ trợ kịp thời của giáo viên khi các em gặp
khó khăn. 11
 Hình ảnh học sinh quan sát mẫu vẽ
 * Ví dụ câu hỏi gợi mở trong chủ đề vẽ chân dung biểu cảm- lớp 3.
 - Giáo viên gây chú ý bằng cách đặt các câu hỏi trước khi tiến hành vẽ. Học
sinh làm việc cá nhân sử dụng một chiếc gương hoặc làm việc theo cặp đôi ngồi
đối diện nhau.
 - Giáo viên gợi ý bằng một số câu hỏi:
 + Em quan sát đường nét của bộ phận nào? Miệng, mắt, mũi, cằm hay má?
Em có nhận thấy đường nét của mái tóc không?
 + Đường nét bắt đầu từ đâu và đi theo hướng nào?
 + Đường nét của cổ gặp đường nét của khuôn mặt ở chỗ nào?
 + Cổ, vai, ngực nối với nhau ra sao?... 12
 Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát kĩ trước khi trả lời. Như thế bắt buộc
các em phải quan sát mẫu thì mới có thể phân tích cấu trúc mẫu và đưa ra những
nhận xét chính xác. Các bước vẽ là một chuỗi logic nếu không thực hiện tốt bước
thứ nhất thì sẽ không thực hiện tốt bước tiếp theo. Khi quan sát mẫu vẽ các em
quan sát từ bao quát đến chi tiết, không tập trung quá nhiều vào chi tiết, bộ phận để
nhận ra: Hình dáng bề ngoài của mẫu, đặc điểm chính của mẫu, các mảng đậm
nhạt lớn,...
 Hình ảnh các em quan sát trước khi vẽ
 Trước khi bắt đầu vẽ giáo viên sẽ lưu ý học sinh vẽ hình theo chiều ngang
hay dọc của tờ giấy. Hình vẽ bằng nào thì vừa, đặt nó ở giữa hay lệch sang phải,
sang trái hoặc lên trên, xuống dưới trang giấy để có bố cục cân đối. Ngoài việc
quan sát mẫu, giáo viên cần minh họa để các em thấy được sự phong phú của mẫu
vẽ, của cách vẽ tranh biểu cảm. Bên cạnh việc giáo viên vẽ minh họa thì giáo viên 13
có thể hỏi học sinh các câu hỏi kiểm tra trí nhớ cũng như thói quen quan sát hằng
ngày của các em.
 3.4. Giải pháp 4: Tổ chức hoạt động cho phương pháp vẽ biểu cảm đạt
hiệu quả.
 Hướng dẫn học sinh cách vẽ.
 Khi hướng dẫn học sinh vẽ giáo viên cần chuẩn bị các bước vẽ để học sinh
hình dung được tiến trình bài vẽ. Hình hướng dẫn cần rõ ràng, đúng với yêu cầu,
nếu sơ sài sẽ không có tác dụng. Bên cạnh đó giáo viên cần minh họa thêm những
phần cần nhấn mạnh để học sinh lưu ý. Chẳng hạn như cách vẽ bắt đầu từ điểm
nào và kết thúc dừng ở đâu.
 Trước khi vẽ, giáo viên cho học sinh quan sát một số bài của các anh chị học
sinh lớp trước để các em có thể học tập. Bài vẽ sử dụng làm mẫu tham khảo phải
được chọn lọc, đạt yêu cầu mang tính biểu đạt cao.
 Sau khi hướng dẫn xong giáo viên xóa các hình minh họa và cất các bài mẫu,
tránh để các em bắt chước bài tham khảo mà không chú tâm vào vẽ.
 Để học sinh nắm chắc cách vẽ hơn giáo viên yêu cầu hai học sinh lên thực
hành tại bảng và nhắc lại cách vẽ tranh biểu cảm giúp học sinh ghi nhớ cách vẽ.
Trong quá trình hướng dẫn mẫu, giáo viên có thể đặt các câu hỏi mang tính gợi mở:
 + Vẽ biểu cảm khác với vẽ theo mẫu như thế nào?
 + Em thấy vẽ biểu cảm có thoải mái, dễ chịu không?...
 ọc sinh thực hành quan sát mẫu và vẽ biểu cảm.
 H
 Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát thật tập trung trong vòng 10- 15 phút.
Mắt của các em nhìn mẫu tới đâu thì tay cầm bút vẽ trên giấy theo các bộ phận mắt
quan sát tới đó. Học sinh cố gắng không nhìn xuống giấy và đưa nét vẽ liền mạch.
 Khi vẽ hoạt động này học sinh vẽ từ 3 đến 4 tờ với một mẫu và đánh số thứ
tự từ 1 đến 4 của các bài vẽ.
 Trong khi học sinh vẽ giáo viên phải duy trì được không khí tập trung trong
suốt hoạt động này và hỗ trợ các em khi gặp khó khăn.
 Sau khi các em đã hoàn thành sản phẩm của mình. Giáo viên yêu cầu các em
trưng bày bài vẽ của mình lên bảng. Gọi học sinh cùng xem tranh, thảo luận, chia
sẻ với nhau qua hoạt động vẽ không nhìn giấy thông qua các câu hỏi gợi ý như:
 + Chúng ta vừa làm gì? Các em có thích hoạt động này không? Tại sao?
 + Các em vẽ có giống mẫu không? Bài nào vẽ chi tiết nhất?
 + Em nhận ra những ý nghĩa gì trong mỗi bức tranh? 14
 + Có ai gian lận trong quá trình vẽ không? Làm thế nào để em nhận ra điều
đó?....
 Giáo viên có thể ghép hoạt động 1 và 2 trong một tiết học tùy vào nội dung
bài học mà giáo viên lựa chọn để tích hợp và tập trung vào quy trình.
 Các em tập trung vẽ không nhìn giấy
 Thể hiện tranh vẽ biểu cảm bằng màu sắc.
 Giáo viên khuyến khích học sinh lựa chọn bức vẽ phù hợp với biểu cảm mà
em muốn thể hiện. Vẽ màu sắc cho tranh để tăng biểu cảm. Học sinh có khả năng
lựa chọn được đường nét mong muốn, xóa bỏ những nét không cần thiết .
 Chọn màu, phối hợp màu để tăng biểu cảm. Tìm được nguồn cảm hứng và
yêu thích các tác phẩm nghệ thuật.
 Giáo viên khuyến khích học sinh lựa chọn chất liệu, màu sắc phù hợp để vẽ
nhằm tăng tính biểu cảm và nội dung đạt được. 15
Hình ảnh cô giáo hướng dẫn em Đạt vẽ màu tranh biểu cảm
 Hình ảnh các em vẽ màu chủ đề vẽ biểu cảm các đồ vật 16
 Hình ảnh các em say sưa vẽ màu tranh chân dung biểu cảm
 Trong khi học sinh làm bài giáo viên đi tới các nhóm và quan sát cả lớp đặt
câu hỏi giúp các em lựa chọn màu sắc:
 + Em muốn thể hiện điều gì và em thể hiện nội dung đó như thế nào trong
bức tranh?
 + Tại sao em sử dụng những màu đó ở chỗ này?
 + Trong bức tranh vẽ không nhìn giấy của mình em thêm hay bỏ chi tiết nào?
Lí do?
 + Hình ảnh trong bức vẽ thể hiện tình cảm gì? Biểu hiện ở điểm nào?
 + Kết thúc hoạt động này giáo viên hướng dẫn học sinh dùng khung tự tạo
để xác định bố cục bức tranh tạo cho học sinh cách nhìn thẩm mĩ và phương pháp
trình bày.
 Trong quá trình này, để tăng sự yêu thích nghệ thuật, giáo viên nên lồng
ghép việc giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật của các học sỹ trong nước và nước
ngoài giúp học sinh tự tin hơn, có ấn tượng và hiểu rõ những phong cách biểu cảm
khác nhau khi vẽ chân dung, cũng như các bức vẽ tranh biểu cảm về các đồ vật,
hoa quả.
 3.5. Giải pháp 5: Giúp học sinh có được không khí sôi động và hứng thú
với hoạt động chia sẻ, trưng bày tác phẩm. 17
 Hình ảnh sản phẩm của học sinh với chủ đề vẽ chân dung biểu cảm ( Nếu cả lớp
 cùng có sản phẩm như bạn này thì tốt)
 Để kết thúc chủ đề giáo viên tổ chức cho học sinh trưng bày các tác phẩm.
Giáo viên khuyến khích học sinh phân tích và suy nghĩ về những biểu cảm mà
mình vừa tạo ra đó chính là phát triển khả năng mĩ thuật thông qua các hội thoại
giúp học sinh hiểu tầm quan trọng việc chia sẻ tác phẩm với người khác.
 Học sinh lên chia sẻ sản phẩm của mình và của bạn, đưa ra những câu hỏi để
chia sẻ, khuyến khích sự giao lưu, trao đổi và gợi mở những ý tưởng tiếp theo cho
bài sau của học sinh. 18
 Hình ảnh em Lan chia sẻ sản phẩm về chủ đề vẽ biểu cảm các đồ vật
 Em Trang lên giới thiệu bài vẽ biểu cảm chân dung của mình
( Nếu có thêm một số hình ảnh sản phẩm của nhiều lớp thì tốt)
 Học sinh rất hứng thú sau khi trưng bày và thăm quan các tác phẩm. Ở hoạt
động này giúp học sinh có khả năng phân tích và đánh giá các tác phẩm, giải thích
lí do lựa chọn và ý kiến đánh giá của mình điều này sẽ giúp học sinh có thêm kinh
nghiệm thực tế và hứng thú về trưng bày triển lãm, yêu thích tác phẩm của mình và
học hỏi sản phẩm của bạn.
 Giáo viên cho học sinh thưởng thức thảo luận và nhận xét đánh giá sản
phẩm lẫn nhau. Khuyến khích học sinh tạo khung tranh và trang trí cho góc học tập
của mình thêm đẹp và phong phú hơn.
 Học sinh mạnh dạn, tự tin trình bày ý tưởng, cảm xúc của mình...
 4. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng.
 (Với học sinh khối 3, khối 4)
 *Cuối năm học 2019- 2020 khi áp dụng sáng kiến.
 Học sinh không thích
 Học sinh thích học quy
 học quy trìnhvẽ biểu
 Tổngsố HS trình vẽ biểu cảm
 cảm
 SL % SL %
 Khối 3 127 127 100 0 0
 Khối 4 118 118 100 0 0 19
 Qua quá trình thực hiện dạy và học của giáo viên và học sinh theo phương
pháp mới kết quả thực nghiệm rất khả quan. 100% các em hoàn thành và thích học
phân môn vẽ biểu cảm, không có học sinh chưa hoàn thành và không thích học. Số
học sinh đạt tăng rất nhiều so với khảo sát ban đầu. Đây cũng là kết quả đáng vui
mừng của giáo viên và học sinh trường Tiểu học Thị trấn tân An. Bản thân tôi nhận
thấy sáng kiến đã thật sự phù hợp và mang lại hiệu quả đáng kể. Cụ thể đó là: Số
học sinh hoàn thành ngay tại lớp 100%. Học sinh hứng thú hơn, say mê học tập
hơn, với phương pháp dạy học mới trong các tiết học các em không bị áp lực nhiều
về mặt thời gian cũng như mục tiêu bài học yêu cầu phải vẽ giống mẫu nữa mà các
em được tự do, thoải mái vẽ theo trí nhớ, trí tưởng tượng của mình một cách ngộ
nghĩnh. Hiện tượng các em học uể oải, mệt mỏi sẽ không còn. Với những HS cá
biệt, ít quan tâm đến việc học lại trở lên hứng thú hơn, ham thích hoạt động thể
hiện rõ ở việc làm việc theo nhóm. Những HS có năng khiếu thì được phát huy hết
khả năng của mình, qua đó tinh thần hợp tác nhóm trong môn Mĩ thuật và môn học
khác được nâng cao. Đồng thời các em đã biết cùng nhau chia sẻ và có thêm kinh
nghiệm thực tế và hứng thú về trưng bày triển lãm, yêu thích tác phẩm của mình và
học hỏi từ sản phẩm của bạn.
 Học sinh được rèn nhiều kỹ năng quan trọng có ích cho bản thân trong đó
đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy, được bổ sung kiến
thức nhờ học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra khi áp dụng phương pháp vẽ biểu cảm này các
em cố gắng không nhìn vào giấy. Những bức vẽ sẽ rất ấn tượng và đôi khi sẽ rất
hài hước, từ đó giúp cho khả năng quan sát của các em được nâng cao.
 * Ứng dụng.
 Sáng kiến: Một số biện pháp dạy học Mĩ thuật lớp 3, lớp 4 theo quy trình
"Vẽ biểu cảm" đạt hiệu quả cao mà tôi đã thực hiện ở trường Tiểu học thị trấn Tân
An.
 Đây là một sáng kiến kinh nghiệm rất mới, nhưng do đây là lần đầu viết và
vận dụng nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu trên đối tượng học sinh tại trường tôi
giảng dạy. Với phạm vi nghiên cứu như hiện nay tôi cũng đã sử dụng quy trình vẽ
biểu cảm, kết hợp trong các bước dạy học bằng giáo án điện tử và đồ dùng điện tử
cho phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh khối lớp 3, lớp 4 nói riêng và học
sinh trường tiểu học thị trấn Tân An nói chung.
 Trên cơ sở lý luận và qua thực tế giảng dạy với cách áp dụng phương pháp
dạy học mới vẽ biểu cảm không nhằm mục đích đào tạo học sinh trở thành những
người sao chép tác phẩm của người khác, mà là để học sinh thể hiện cảm xúc của
mình thông qua những trải nghiệm khác nhau. Từ đó giúp học sinh có cái nhìn thú 20
vị về môn mĩ thuật. Do vậy cần nhân rộng, phổ biến phát triển cho các đồng
nghiệp ở các trường lân cận trong huyện và các trường khác trong tỉnh.
 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
 1. Kết luận.
 Như chúng ta đã biết. Lịch sử Mĩ thuật ra đời nhằm hệ thống hóa sự phát
triển tư tưởng thẩm mĩ của một dân tộc, vì nó là một bộ phận hết sức cần thiết và
quan trọng của đời sống vật chất và và văn hóa tinh thần của mọi người Việt Nam.
Là một giáo viên dạy Mĩ thuật tôi rất tự hào về nền Mĩ thuật của nước nhà. Vì thế
tôi càng phải cố gắng học hỏi đồng nghiệp cũng như cần phải tìm hiểu và vận dụng
hết những gì mình học hỏi được để phục vụ cho việc giảng dạy các em thật tốt. Với
mục tiêu làm thế nào để các em yêu thích môn học và qua môn học các em sẽ thấy
thêm yêu quê hương mình biết vận dụng cái đẹp vào cuộc sống. Do vậy tôi đã
mạnh dạn đưa ra sáng kiến của mình và qua sáng kiến này sẽ giúp các em có được
một cách học mới. Giúp các em có hứng thú, tư duy sáng tạo và phát triển nhận
thức. Để từ đó các em có thể hình thành và phát triển những năng lực cần thiết khi
tham gia vào các hoạt động trải nghiệm trong môn Mĩ thuật ở khối lớp 3, lớp 4 nói
riêng và ở các khối, lớp khác nói chung.
 Mặc dù bước đầu để hướng các em đến cái mới còn gặp nhiều khó khăn.
Nhưng trong quá trình thực hiện, kết quả đạt được của các em đã có sự tiến bộ rõ
rệt, đó là một thành công rất đáng mừng. Với sự thay đổi phương pháp học tập này
đã mang lại một ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ đối với học sinh khối lớp 3, lớp
4 mà tất cả học sinh tiểu học.
 Khi thực hiện giảng dạy và trải nghiệm theo phương pháp mới điều tôi nhận
thấy và tâm đắc đó chính là cái hay của dự án đã khơi gợi được cảm xúc về thẩm
mĩ cho học sinh, hướng học sinh cùng tham gia tìm tòi kiến thức về mĩ thuật, tạo
cho học sinh một môi trường học tập thân thiện và đoàn kết. Thông qua bài học
học sinh nói nên chính kiến thức của mình, thêm tự tin và phát triển khả năng ngôn
ngữ.
 2. Kiến nghị.
 Để nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học môn Mĩ thuật tôi mạnh dạn đưa ra
một số kiến nghị sau:
 Đối với ngành cũng như nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến môn mĩ thuật,
coi mĩ thuật là môn học chính, độc lập như một môn học khác.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_day_hoc_mi_thuat_lop_3_lop_4_theo_quy.pdf